BẢN TIN
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
STN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:29' 13-12-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:29' 13-12-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ tư
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nhụy Kiều tướng quân - Ba Triệu/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Đinh Văn Liên biên soạn;
họa sĩ Nguyễn Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 4 - TP. Hồ Chí Minh: trẻ, 2013
86tr.; minh họa; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.7).
1. Triệu Thị Trinh, 226-248. 2. Danh nhân - Việt Nam - Tiểu sử. 3. Việt Nam - Lịch sử - I.
Trần Bạch Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Triệu Thị Trinh, 226-248. 2. Celebrites - Vietnam - Biography. 3. Vietnam - History.
959.7013092 – dc22
N584
LỜI GIỚI THIỆU
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhà Hán tăng
cường chính sách cai trị khắc nghiệt đối với Giao Châu. Nhưng
vào cuối thế kỉ thứ II, triều đình nhà Hán suy yếu, dân Hán nổi dậy
khắp nơi, lớn nhất là cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn Vàng).
Đầu thế kỉ thứ III, đất Hán bị chia thành tam quốc với Ngụy
– Thục – Ngô cát cứ ba phương, và những cuộc tranh hùng giữa
Tào Tháo – Lưu Bị – Tôn Quyền diễn ra liên miên không dứt, gây
bao nỗi thống khổ cho nhân dân Trung Quốc thời đó. Đặc biệt dân
các nước lệ thuộc, trong đó có nước ta, còn khốn khổ gấp bao lần.
Vào đầu thế kỉ thứ ba miền đất nước ta nằm dưới ách đô hộ
của nhà Ngô. Cũng như các triều đại trước, nhà Ngô ra sức thu vét
sản vật và bắt lính, bắt phu từ Giao Chỉ để củng cố thực lực giao
tranh với Lưu Bị, Tào Tháo. Bởi vậy vào năm 248 cả Cửu Chân,
Giao Chỉ đều nổi dậy chống Ngô trong đó tiêu biểu nhất cuộc khởi
nghĩa của người nữ anh hùng trẻ tuổi miền Cửu Chân: Bà Triệu.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 7 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Nhụy Kiều tướng quân Bà Triệu”
phần lời do Đinh Văn Liên biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 7 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
“Con gái nước ta, nhiều người hùng dũng khác thường.
Bà Triệu Ẩu cũng là người sánh vai được với Hai Bà
Trưng. Xem như vậy, thì Bắc sử chép truyện thành Phu
Nhân Quân nương tử, há có phải chỉ Trung Quốc là có
đàn bà nổi danh tiếng đâu?”
(Khâm định Việt sử thông giám cương mục
tiền biên, quyển III)
4
Vào đầu thế kỉ thứ III, nước ta bị nhà Ngô đô hộ. Bọn quan
lại nhà Ngô tham tàn bạo ngược, cai trị hà khắc, cướp bóc, vơ vét
của cải, ức hiếp và nhũng nhiễu dân lành. Đất nước ta tiêu điều
xơ xác, nhân dân ta oán hận căm thù.
5
Để có nhiều quân đánh nhau với Ngụy và Thục, quân Ngô bắt
hàng nghìn hàng vạn trai tráng đất Việt sang Ngô đi lính, xông
pha sa trường. Khắp đất nước, xóm làng diễn ra cảnh biệt ly, vợ
khóc chồng, con khóc cha... vô cùng thảm thiết.
6
Khi xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh) vì thiếu thợ
giỏi, nhà Ngô đã bắt hàng ngàn thợ thủ công giỏi đất Giao Chỉ, Cửu
Chân, cưỡng bức đưa sang làm thợ. Họ làm việc dưới đòn roi của
quan binh nhà Ngô đến kiệt sức bỏ mạng nơi công trường. Nhiều
người ra đi là vĩnh viễn không trở về được với quê hương đất tổ.
7
Bọn quan lại tham tàn còn bắt dân ta vào rừng bắt voi, tê giác
lấy ngà, tìm trầm hương, quế và những lâm sản quí hiếm làm lễ
vật cống nạp cho chúng.
8
Chúng còn bắt dân ta lặn xuống biển sâu mò ngọc trai và các
hải sản quí khác. Nhiều người đã làm mồi cho sóng dữ, cá mập.
9
Không cam chịu áp bức bất công, tham tàn bạo ngược ấy,
một người con gái anh hùng đã phất ngọn cờ nghĩa ở núi Tùng
quận Cửu Chân (nay thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) để
đánh đuổi quân xâm lược. Nhân dân phấn khởi cổ vũ và hưởng
ứng rất đông.
10
11
Người con gái ấy là Bà Triệu, hay Nàng Trinh (Triệu Trinh
Nương hay Triệu Thị Trinh). Theo truyền thuyết dân gian, Triệu
Thị Trinh cất tiếng khóc chào đời ngày mồng 2 tháng 10 năm Kỷ
Dậu (năm 229) ở một bản làng thuộc vùng núi Quân Yên (Cửu
Chân). Bà sinh ra trong tiếng trống bập bùng của ngày hội săn và
sự hân hoan chào đón của gia đình, bà con quanh vùng.
12
Họ Triệu là một hào trưởng nổi tiếng
giàu có và hào hiệp trong quận Cửu Chân.
Nhân dân trong vùng rất kính trọng, thường
hỏi ý kiến ông trong công việc làm ăn và
vấn kế ông để đối phó với quan quân Ngô
tham tàn, sách nhiễu.
13
Khi Triệu Thị Trinh đã lớn được cha cho cùng anh là Triệu
Quốc Đạt theo học cả văn lẫn võ. Cả hai anh em đều khỏe mạnh,
thông minh, khiến hào trưởng họ Triệu hết sức hài lòng.
14
Cô bé Trinh xinh xắn, nhưng có cá tính mạnh mẽ, thích thao
duyệt võ nghệ hơn là may vá thêu thùa. Những lúc rảnh rỗi cô
thường theo các bạn chăn trâu thả diều, đá dế và bày trò tập trận
giả đánh nhau. Quê hương với cánh đồng Nếp Bắt bạt ngàn nằm
trên bờ sông Mã dưới núi Quân Yên đã khắc ghi trong trái tim thơ
dại của cô tình yêu thương vô bờ.
15
Chẳng mấy chốc, nàng Trinh đã trở thành thiếu nữ. Nàng thích
nhất là những đêm trăng giã gạo, cùng các bạn trong bản làng kể
chuyện, hát đối về chiến công lẫy lừng của hai bà Trưng Trắc và
Trưng Nhị.
16
Tuy là con gái nhưng nàng Trinh rất khỏe mạnh, thông minh
và hiếu động. Nàng bắn cung rất giỏi, thường theo các trai tráng
phường săn đi săn thú. Một hôm nàng bắn hạ một con beo gấm
trước sự thán phục và ngưỡng mộ của trai tráng quanh vùng.
17
Nàng Trinh học võ rất mau tiến bộ. Trong luyện tập, khi thi
đấu với trai tráng trong làng, nàng tỏ ra rất kiên cường và không
chịu nhường bất cứ ai.
18
Lớn lên, hàng ngày chứng kiến cảnh nhân dân cực khổ, rách
rưới bị quan quân nhà Ngô bắt trói, đánh đập, bắt đi phu, đi dịch,
Nàng Trinh rất buồn rầu và uất hận. Nhất là khi trong đám người
ấy có bạn bè, trai tráng và người quen trong vùng.
19
Nàng càng đau lòng khi thấy cha và anh mình vốn là những
Hào trưởng quyền uy nhất vùng, vậy mà hàng ngày phải lo lắng,
bôn ba cùng dân làng tìm kiếm, đánh bắt đủ phẩm vật dâng cống
theo định kỳ cho tên Thái thú Cửu Chân. Dù vậy, chúng ngày
càng đòi hỏi thái quá và hoạnh họe đủ điều.
20
Từ đó, nàng Trinh suy nghĩ rất nhiều và trong đầu nàng nung
nấu ý chí trả thù nhà nợ trước, quyết theo gương Hai Bà Trưng
quét sạch bọn giặc Ngô ra khỏi bờ cõi, trả lại thanh bình, tự do
cho nhân dân.
21
Hào trưởng họ Triệu và Quốc Đạt đồng cảm với nàng Trinh,
họ bàn: “Muốn lo việc lớn phải chuẩn bị lực lượng, tích trữ lương
thảo và chờ đợi thời cơ”. Sau đó họ phân nhau mỗi người một
việc, tích cực chuẩn bị.
22
Nhưng không may chẳng bao lâu sau đó Hào trưởng họ Triệu
lâm trọng bệnh qua đời. Quốc Đạt thay cha làm Hào trưởng vùng
núi Quân Yên. Từ đó, anh gánh lấy trách nhiệm lo cho dân và
càng thấm thía thân phận người dân nô lệ.
23
Tuy đang phải chịu tang nhưng Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh
vẫn nung nấu ý chí khởi nghĩa. Quốc Đạt đem việc lớn bàn với
vợ, nhưng mụ không đồng tình, hèn nhát van xin Quốc Đạt đừng
nghĩ đến việc đó vì sợ sự trả thù tàn bạo của quân Ngô.
24
Từ đó, Quốc Đạt không bàn với vợ nữa. Anh ngầm bảo Thị
Trinh: “Em đem người về quê mẹ ở núi Tùng tập hợp hào kiệt,
rèn luyện binh mã, chuẩn bị địa thế hiểm yếu cùng anh tạo thế
liên hoàn chờ đợi thời cơ khởi nghĩa...”.
25
Núi Tùng có một thung lũng nhỏ nằm giữa hai dãy núi đá vôi
thấp, dãy phía bắc là Châu Lộc, dãy phía nam là Tam Đa. Dưới
chân núi Châu Lộc là sông Lèn, dưới chân núi Tam Đa là sông
Âu. Từ thung lũng này có thể ngược lên liên hệ với các bộ tộc
miền núi, vừa có thể mở ra đồng bằng xuống biển. Thật là một
cảnh đẹp nên thơ vừa là căn cứ quân sự hiếm có.
26
27
Anh em họ Triệu mở rộng cửa để chào đón hào kiệt, đem của
cải ra để sắm sửa khí giới, quân dụng. Cả ở núi Tùng lẫn Quân Yên
đều tổ chức đội ngũ như những phường săn, hàng ngày họ giả đi
săn để vào rừng luyện tập võ nghệ và cách đánh phá các thế trận.
28
Mặt khác, Triệu Quốc Đạt cho người mang rượu thịt cùng
những đồ quý hiếm mà ông săn bắt được như nai, heo rừng, da hổ,
chim trĩ, và trầm hương, quế... đến cống cho bọn quan lại cai trị
để lấy lòng và tỏ thái độ thuần phục cho chúng không nghi ngờ.
29
Tương truyền, lúc bấy giờ ở vùng núi Tùng xuất hiện một con
voi trắng một ngà rất dữ tợn. Con voi thường về phá hoại mùa
màng, quật chết trâu bò. Nó còn quật chết, dày xác những người
nào đến gần săn bắt.
30
Triệu Thị Trinh cùng các bạn mưu trí dùng voi nhà dụ con voi
một ngà hung dữ xuống một đầm lầy rồi ở xung quanh hô hoán.
Voi càng vùng vẫy càng bị lún sâu. Lúc đó, bà nhảy lên cưỡi đầu
voi, lúc cứng rắn lúc vỗ về để thu phục voi. Cuối cùng, con voi
hung dữ chịu khuất phục.
31
Ở một vùng sơn cước xa xôi có một lão nài voi giàu kinh
nghiệm nghe tin Bà Triệu thu phục con voi một ngà, ông rất lấy
làm khâm phục nên lặn lội đến tình nguyện làm nài voi trắng cho
Bà. Từ đó, chú voi trắng, lão nài trở thành người bạn chiến đấu
trung thành của Bà Triệu.
32
Để gây thanh thế cho nghĩa quân, Bà Triệu đã sai đục núi Quân
Yên, cho người chui vào đọc bài đồng dao:
“Có Bà Triệu tướng,
Vâng lệnh trời ra.
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót bà Vương.”
Nhờ vậy, cả vùng đồn đại về hòn đá biết nói và tin rằng Bà
Triệu là “thiên tướng giáng trần” giúp dân, cứu nước. Từ đó trai
tráng trong vùng càng nô nức tham gia hàng ngũ nghĩa quân.
33
Có ba anh em họ Lý là tộc trưởng một bộ tộc ở miền núi cao
đầu nguồn sông Mã. Ba anh em đều dũng cảm và tinh thông võ
nghệ. Người anh cả có tài bắn cung trăm phát trăm trúng, người
thứ hai phóng lao chính xác không sai một ly, người thứ ba múa
cây búa sắt to, nặng làm gió lộng ào ào.
34
Ba anh em họ Lý rất ngưỡng mộ Bà Triệu, họ dẫn theo tráng
đinh của bộ tộc tìm về gia nhập nghĩa quân và tự nguyện tôn Bà
Triệu làm chủ tướng. Về sau, họ trở thành những vị tướng tài ba
và bất khuất của nghĩa quân.
35
Các truyền thuyết đều
cho thấy nhân dân khắp
nơi một lòng tôn kính Bà
Triệu và nhiệt liệt hưởng
ứng phong trào khởi nghĩa
của Bà. Chẳng hạn, một
ông già mù đi khắp nơi hát
kể về dòng giống, tổ tiên,
về các vị anh hùng dân tộc
và về đức độ của Bà Triệu
để cổ vũ mọi người tham
gia nghĩa quân.
36
Lại có một cụ già hàng nước, chống gậy ra giữa đường chặn
đoàn quân lại xin gặp Bà Triệu. Bà có một người con gái duy nhất,
xinh xắn, giỏi giang, bà muốn con gái được theo gót Bà Triệu tòng
quân giết giặc. Bà Triệu cảm kích nhận lời.
37
Bà cụ còn tặng tất cả chõng chuối với chum nước chè xanh cho
nghĩa quân giải khát trong lúc quân hành. Nghĩa cử của bà cụ thể
hiện sự ủng hộ của nhân dân và là nguồn động viên rất lớn cho
nghĩa quân Bà Triệu.
38
Thời đó, sông Mã có một nhánh chảy từ đầm Hàn về cửa Lạch
Trường. Đó là nơi quân Ngô chiếm giữ, chiến thuyền san sát. Một
chàng trai đã ăn trộm ngựa chiến của quân giặc trốn về với Bà
Triệu và trở thành dũng tướng của nghĩa quân.
39
Ngày nay ở xã Hà Ngọc
(Hà Trung,Thanh Hóa) còn
có ngôi đền gọi là đền Cô
Thị. Dân trong vùng còn
kể lại một truyền thuyết rất
cảm động về đôi vợ chồng
một nghĩa quân của Bà
Triệu. Người chồng trẩy
quân theo Bà Triệu một thời
gian thì người vợ ở nhà lâm
bệnh nặng. Khi chết nàng
biến thành cây thị.
40
Đặc biệt, cây thị này chỉ có một trái to, tròn rất đẹp, nhưng
không ai hái được, vì hễ ai thò tay bẻ thì cành thị lại vút lên cao.
Cành ấy luôn ngả về hướng đông nam theo hướng người chồng
đang ở trong quân dinh Bà Triệu.
41
Một ngày thắng trận, người chồng được phép Bà Triệu về thăm
làng xóm thì cành cây mới chịu sà xuống và quả thị rơi vào ống
tay áo của chàng. Thương tiếc người thiếu phụ chết rồi vẫn một
dạ chờ chồng, dân chúng lập đền thờ ở ngay gốc thị.
42
Tin đồn về sự chuẩn bị khởi nghĩa của anh em Bà Triệu lan
xa trên toàn quận Cửu Chân. Viên Thái thú Cửu Chân lo sợ phái
một tên ngụy quan về do thám tình hình. Tên này là bà con với
vợ Triệu Quốc Đạt.
43
Tên ngụy quan về mật bàn với vợ Triệu Quốc Đạt. Mụ nghĩ
ra một độc kế vừa phá vỡ được cuộc khởi nghĩa, vừa ly gián tình
anh em họ Triệu, vừa cột chặt Triệu Quốc Đạt với bọn quan lại
đô hộ. Mụ nói: “Hãy về tâu Thái thú một mặt đòi hỏi bức bách
nhiều đồ cống vật quí hiếm ngoài khả năng của Quốc Đạt, mặt
khác xoa dịu, vỗ về nếu Quốc Đạt đồng ý gả Thị Trinh thì sẽ xí
xóa kết thành thân thuộc”.
44
Tên ngụy quan về thưa lại với tên Thái thú. Hai tên chắc mẩm
phen này mọi chuyện sẽ thành công tốt đẹp. Bởi vậy chúng hể hả
tổ chức ăn mừng vừa tán thưởng lẫn nhau.
45
Sau đó tên Thái thú cho mời Quốc Đạt đến quận đường. Y và
tên ngụy quan sai bày tiệc tiếp đãi Quốc Đạt rất linh đình. Rượu
được vài hồi, tên Thái thú bắt đầu đưa ra những yêu sách, nếu
Hào trưởng họ Triệu không đáp ứng sẽ bị bắt giải về kinh đô nhà
Ngô. Nhưng y hứa sẽ tha cho Quốc Đạt nếu ông bằng lòng gả em
gái là Triệu Thị Trinh cho viên ngụy quan của y.
46
Sau khi cáo từ ra về, Triệu Quốc Đạt rất phân vân. Căm thù
lũ giặc hèn hạ và độc ác lại hiểu rất rõ tính cách của em gái, ông
biết em mình không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng nếu vậy thì
phong trào khởi nghĩa vừa nhen nhúm sẽ gặp nguy hiểm. Không
biết tính sao, ông bèn kể cho Thị Trinh nghe âm mưu hiểm độc
của kẻ thù cũng như lời cầu hôn của viên Thái thú.
47
Quả nhiên khi vừa nghe ông nói xong, Nàng Trinh vụt đứng
dậy khẳng khái đáp: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng
sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi giặc nước, giành
lại giang san, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.
48
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nhụy Kiều tướng quân - Ba Triệu/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Đinh Văn Liên biên soạn;
họa sĩ Nguyễn Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 4 - TP. Hồ Chí Minh: trẻ, 2013
86tr.; minh họa; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.7).
1. Triệu Thị Trinh, 226-248. 2. Danh nhân - Việt Nam - Tiểu sử. 3. Việt Nam - Lịch sử - I.
Trần Bạch Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Triệu Thị Trinh, 226-248. 2. Celebrites - Vietnam - Biography. 3. Vietnam - History.
959.7013092 – dc22
N584
LỜI GIỚI THIỆU
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhà Hán tăng
cường chính sách cai trị khắc nghiệt đối với Giao Châu. Nhưng
vào cuối thế kỉ thứ II, triều đình nhà Hán suy yếu, dân Hán nổi dậy
khắp nơi, lớn nhất là cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn Vàng).
Đầu thế kỉ thứ III, đất Hán bị chia thành tam quốc với Ngụy
– Thục – Ngô cát cứ ba phương, và những cuộc tranh hùng giữa
Tào Tháo – Lưu Bị – Tôn Quyền diễn ra liên miên không dứt, gây
bao nỗi thống khổ cho nhân dân Trung Quốc thời đó. Đặc biệt dân
các nước lệ thuộc, trong đó có nước ta, còn khốn khổ gấp bao lần.
Vào đầu thế kỉ thứ ba miền đất nước ta nằm dưới ách đô hộ
của nhà Ngô. Cũng như các triều đại trước, nhà Ngô ra sức thu vét
sản vật và bắt lính, bắt phu từ Giao Chỉ để củng cố thực lực giao
tranh với Lưu Bị, Tào Tháo. Bởi vậy vào năm 248 cả Cửu Chân,
Giao Chỉ đều nổi dậy chống Ngô trong đó tiêu biểu nhất cuộc khởi
nghĩa của người nữ anh hùng trẻ tuổi miền Cửu Chân: Bà Triệu.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 7 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Nhụy Kiều tướng quân Bà Triệu”
phần lời do Đinh Văn Liên biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 7 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
“Con gái nước ta, nhiều người hùng dũng khác thường.
Bà Triệu Ẩu cũng là người sánh vai được với Hai Bà
Trưng. Xem như vậy, thì Bắc sử chép truyện thành Phu
Nhân Quân nương tử, há có phải chỉ Trung Quốc là có
đàn bà nổi danh tiếng đâu?”
(Khâm định Việt sử thông giám cương mục
tiền biên, quyển III)
4
Vào đầu thế kỉ thứ III, nước ta bị nhà Ngô đô hộ. Bọn quan
lại nhà Ngô tham tàn bạo ngược, cai trị hà khắc, cướp bóc, vơ vét
của cải, ức hiếp và nhũng nhiễu dân lành. Đất nước ta tiêu điều
xơ xác, nhân dân ta oán hận căm thù.
5
Để có nhiều quân đánh nhau với Ngụy và Thục, quân Ngô bắt
hàng nghìn hàng vạn trai tráng đất Việt sang Ngô đi lính, xông
pha sa trường. Khắp đất nước, xóm làng diễn ra cảnh biệt ly, vợ
khóc chồng, con khóc cha... vô cùng thảm thiết.
6
Khi xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh) vì thiếu thợ
giỏi, nhà Ngô đã bắt hàng ngàn thợ thủ công giỏi đất Giao Chỉ, Cửu
Chân, cưỡng bức đưa sang làm thợ. Họ làm việc dưới đòn roi của
quan binh nhà Ngô đến kiệt sức bỏ mạng nơi công trường. Nhiều
người ra đi là vĩnh viễn không trở về được với quê hương đất tổ.
7
Bọn quan lại tham tàn còn bắt dân ta vào rừng bắt voi, tê giác
lấy ngà, tìm trầm hương, quế và những lâm sản quí hiếm làm lễ
vật cống nạp cho chúng.
8
Chúng còn bắt dân ta lặn xuống biển sâu mò ngọc trai và các
hải sản quí khác. Nhiều người đã làm mồi cho sóng dữ, cá mập.
9
Không cam chịu áp bức bất công, tham tàn bạo ngược ấy,
một người con gái anh hùng đã phất ngọn cờ nghĩa ở núi Tùng
quận Cửu Chân (nay thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) để
đánh đuổi quân xâm lược. Nhân dân phấn khởi cổ vũ và hưởng
ứng rất đông.
10
11
Người con gái ấy là Bà Triệu, hay Nàng Trinh (Triệu Trinh
Nương hay Triệu Thị Trinh). Theo truyền thuyết dân gian, Triệu
Thị Trinh cất tiếng khóc chào đời ngày mồng 2 tháng 10 năm Kỷ
Dậu (năm 229) ở một bản làng thuộc vùng núi Quân Yên (Cửu
Chân). Bà sinh ra trong tiếng trống bập bùng của ngày hội săn và
sự hân hoan chào đón của gia đình, bà con quanh vùng.
12
Họ Triệu là một hào trưởng nổi tiếng
giàu có và hào hiệp trong quận Cửu Chân.
Nhân dân trong vùng rất kính trọng, thường
hỏi ý kiến ông trong công việc làm ăn và
vấn kế ông để đối phó với quan quân Ngô
tham tàn, sách nhiễu.
13
Khi Triệu Thị Trinh đã lớn được cha cho cùng anh là Triệu
Quốc Đạt theo học cả văn lẫn võ. Cả hai anh em đều khỏe mạnh,
thông minh, khiến hào trưởng họ Triệu hết sức hài lòng.
14
Cô bé Trinh xinh xắn, nhưng có cá tính mạnh mẽ, thích thao
duyệt võ nghệ hơn là may vá thêu thùa. Những lúc rảnh rỗi cô
thường theo các bạn chăn trâu thả diều, đá dế và bày trò tập trận
giả đánh nhau. Quê hương với cánh đồng Nếp Bắt bạt ngàn nằm
trên bờ sông Mã dưới núi Quân Yên đã khắc ghi trong trái tim thơ
dại của cô tình yêu thương vô bờ.
15
Chẳng mấy chốc, nàng Trinh đã trở thành thiếu nữ. Nàng thích
nhất là những đêm trăng giã gạo, cùng các bạn trong bản làng kể
chuyện, hát đối về chiến công lẫy lừng của hai bà Trưng Trắc và
Trưng Nhị.
16
Tuy là con gái nhưng nàng Trinh rất khỏe mạnh, thông minh
và hiếu động. Nàng bắn cung rất giỏi, thường theo các trai tráng
phường săn đi săn thú. Một hôm nàng bắn hạ một con beo gấm
trước sự thán phục và ngưỡng mộ của trai tráng quanh vùng.
17
Nàng Trinh học võ rất mau tiến bộ. Trong luyện tập, khi thi
đấu với trai tráng trong làng, nàng tỏ ra rất kiên cường và không
chịu nhường bất cứ ai.
18
Lớn lên, hàng ngày chứng kiến cảnh nhân dân cực khổ, rách
rưới bị quan quân nhà Ngô bắt trói, đánh đập, bắt đi phu, đi dịch,
Nàng Trinh rất buồn rầu và uất hận. Nhất là khi trong đám người
ấy có bạn bè, trai tráng và người quen trong vùng.
19
Nàng càng đau lòng khi thấy cha và anh mình vốn là những
Hào trưởng quyền uy nhất vùng, vậy mà hàng ngày phải lo lắng,
bôn ba cùng dân làng tìm kiếm, đánh bắt đủ phẩm vật dâng cống
theo định kỳ cho tên Thái thú Cửu Chân. Dù vậy, chúng ngày
càng đòi hỏi thái quá và hoạnh họe đủ điều.
20
Từ đó, nàng Trinh suy nghĩ rất nhiều và trong đầu nàng nung
nấu ý chí trả thù nhà nợ trước, quyết theo gương Hai Bà Trưng
quét sạch bọn giặc Ngô ra khỏi bờ cõi, trả lại thanh bình, tự do
cho nhân dân.
21
Hào trưởng họ Triệu và Quốc Đạt đồng cảm với nàng Trinh,
họ bàn: “Muốn lo việc lớn phải chuẩn bị lực lượng, tích trữ lương
thảo và chờ đợi thời cơ”. Sau đó họ phân nhau mỗi người một
việc, tích cực chuẩn bị.
22
Nhưng không may chẳng bao lâu sau đó Hào trưởng họ Triệu
lâm trọng bệnh qua đời. Quốc Đạt thay cha làm Hào trưởng vùng
núi Quân Yên. Từ đó, anh gánh lấy trách nhiệm lo cho dân và
càng thấm thía thân phận người dân nô lệ.
23
Tuy đang phải chịu tang nhưng Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh
vẫn nung nấu ý chí khởi nghĩa. Quốc Đạt đem việc lớn bàn với
vợ, nhưng mụ không đồng tình, hèn nhát van xin Quốc Đạt đừng
nghĩ đến việc đó vì sợ sự trả thù tàn bạo của quân Ngô.
24
Từ đó, Quốc Đạt không bàn với vợ nữa. Anh ngầm bảo Thị
Trinh: “Em đem người về quê mẹ ở núi Tùng tập hợp hào kiệt,
rèn luyện binh mã, chuẩn bị địa thế hiểm yếu cùng anh tạo thế
liên hoàn chờ đợi thời cơ khởi nghĩa...”.
25
Núi Tùng có một thung lũng nhỏ nằm giữa hai dãy núi đá vôi
thấp, dãy phía bắc là Châu Lộc, dãy phía nam là Tam Đa. Dưới
chân núi Châu Lộc là sông Lèn, dưới chân núi Tam Đa là sông
Âu. Từ thung lũng này có thể ngược lên liên hệ với các bộ tộc
miền núi, vừa có thể mở ra đồng bằng xuống biển. Thật là một
cảnh đẹp nên thơ vừa là căn cứ quân sự hiếm có.
26
27
Anh em họ Triệu mở rộng cửa để chào đón hào kiệt, đem của
cải ra để sắm sửa khí giới, quân dụng. Cả ở núi Tùng lẫn Quân Yên
đều tổ chức đội ngũ như những phường săn, hàng ngày họ giả đi
săn để vào rừng luyện tập võ nghệ và cách đánh phá các thế trận.
28
Mặt khác, Triệu Quốc Đạt cho người mang rượu thịt cùng
những đồ quý hiếm mà ông săn bắt được như nai, heo rừng, da hổ,
chim trĩ, và trầm hương, quế... đến cống cho bọn quan lại cai trị
để lấy lòng và tỏ thái độ thuần phục cho chúng không nghi ngờ.
29
Tương truyền, lúc bấy giờ ở vùng núi Tùng xuất hiện một con
voi trắng một ngà rất dữ tợn. Con voi thường về phá hoại mùa
màng, quật chết trâu bò. Nó còn quật chết, dày xác những người
nào đến gần săn bắt.
30
Triệu Thị Trinh cùng các bạn mưu trí dùng voi nhà dụ con voi
một ngà hung dữ xuống một đầm lầy rồi ở xung quanh hô hoán.
Voi càng vùng vẫy càng bị lún sâu. Lúc đó, bà nhảy lên cưỡi đầu
voi, lúc cứng rắn lúc vỗ về để thu phục voi. Cuối cùng, con voi
hung dữ chịu khuất phục.
31
Ở một vùng sơn cước xa xôi có một lão nài voi giàu kinh
nghiệm nghe tin Bà Triệu thu phục con voi một ngà, ông rất lấy
làm khâm phục nên lặn lội đến tình nguyện làm nài voi trắng cho
Bà. Từ đó, chú voi trắng, lão nài trở thành người bạn chiến đấu
trung thành của Bà Triệu.
32
Để gây thanh thế cho nghĩa quân, Bà Triệu đã sai đục núi Quân
Yên, cho người chui vào đọc bài đồng dao:
“Có Bà Triệu tướng,
Vâng lệnh trời ra.
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót bà Vương.”
Nhờ vậy, cả vùng đồn đại về hòn đá biết nói và tin rằng Bà
Triệu là “thiên tướng giáng trần” giúp dân, cứu nước. Từ đó trai
tráng trong vùng càng nô nức tham gia hàng ngũ nghĩa quân.
33
Có ba anh em họ Lý là tộc trưởng một bộ tộc ở miền núi cao
đầu nguồn sông Mã. Ba anh em đều dũng cảm và tinh thông võ
nghệ. Người anh cả có tài bắn cung trăm phát trăm trúng, người
thứ hai phóng lao chính xác không sai một ly, người thứ ba múa
cây búa sắt to, nặng làm gió lộng ào ào.
34
Ba anh em họ Lý rất ngưỡng mộ Bà Triệu, họ dẫn theo tráng
đinh của bộ tộc tìm về gia nhập nghĩa quân và tự nguyện tôn Bà
Triệu làm chủ tướng. Về sau, họ trở thành những vị tướng tài ba
và bất khuất của nghĩa quân.
35
Các truyền thuyết đều
cho thấy nhân dân khắp
nơi một lòng tôn kính Bà
Triệu và nhiệt liệt hưởng
ứng phong trào khởi nghĩa
của Bà. Chẳng hạn, một
ông già mù đi khắp nơi hát
kể về dòng giống, tổ tiên,
về các vị anh hùng dân tộc
và về đức độ của Bà Triệu
để cổ vũ mọi người tham
gia nghĩa quân.
36
Lại có một cụ già hàng nước, chống gậy ra giữa đường chặn
đoàn quân lại xin gặp Bà Triệu. Bà có một người con gái duy nhất,
xinh xắn, giỏi giang, bà muốn con gái được theo gót Bà Triệu tòng
quân giết giặc. Bà Triệu cảm kích nhận lời.
37
Bà cụ còn tặng tất cả chõng chuối với chum nước chè xanh cho
nghĩa quân giải khát trong lúc quân hành. Nghĩa cử của bà cụ thể
hiện sự ủng hộ của nhân dân và là nguồn động viên rất lớn cho
nghĩa quân Bà Triệu.
38
Thời đó, sông Mã có một nhánh chảy từ đầm Hàn về cửa Lạch
Trường. Đó là nơi quân Ngô chiếm giữ, chiến thuyền san sát. Một
chàng trai đã ăn trộm ngựa chiến của quân giặc trốn về với Bà
Triệu và trở thành dũng tướng của nghĩa quân.
39
Ngày nay ở xã Hà Ngọc
(Hà Trung,Thanh Hóa) còn
có ngôi đền gọi là đền Cô
Thị. Dân trong vùng còn
kể lại một truyền thuyết rất
cảm động về đôi vợ chồng
một nghĩa quân của Bà
Triệu. Người chồng trẩy
quân theo Bà Triệu một thời
gian thì người vợ ở nhà lâm
bệnh nặng. Khi chết nàng
biến thành cây thị.
40
Đặc biệt, cây thị này chỉ có một trái to, tròn rất đẹp, nhưng
không ai hái được, vì hễ ai thò tay bẻ thì cành thị lại vút lên cao.
Cành ấy luôn ngả về hướng đông nam theo hướng người chồng
đang ở trong quân dinh Bà Triệu.
41
Một ngày thắng trận, người chồng được phép Bà Triệu về thăm
làng xóm thì cành cây mới chịu sà xuống và quả thị rơi vào ống
tay áo của chàng. Thương tiếc người thiếu phụ chết rồi vẫn một
dạ chờ chồng, dân chúng lập đền thờ ở ngay gốc thị.
42
Tin đồn về sự chuẩn bị khởi nghĩa của anh em Bà Triệu lan
xa trên toàn quận Cửu Chân. Viên Thái thú Cửu Chân lo sợ phái
một tên ngụy quan về do thám tình hình. Tên này là bà con với
vợ Triệu Quốc Đạt.
43
Tên ngụy quan về mật bàn với vợ Triệu Quốc Đạt. Mụ nghĩ
ra một độc kế vừa phá vỡ được cuộc khởi nghĩa, vừa ly gián tình
anh em họ Triệu, vừa cột chặt Triệu Quốc Đạt với bọn quan lại
đô hộ. Mụ nói: “Hãy về tâu Thái thú một mặt đòi hỏi bức bách
nhiều đồ cống vật quí hiếm ngoài khả năng của Quốc Đạt, mặt
khác xoa dịu, vỗ về nếu Quốc Đạt đồng ý gả Thị Trinh thì sẽ xí
xóa kết thành thân thuộc”.
44
Tên ngụy quan về thưa lại với tên Thái thú. Hai tên chắc mẩm
phen này mọi chuyện sẽ thành công tốt đẹp. Bởi vậy chúng hể hả
tổ chức ăn mừng vừa tán thưởng lẫn nhau.
45
Sau đó tên Thái thú cho mời Quốc Đạt đến quận đường. Y và
tên ngụy quan sai bày tiệc tiếp đãi Quốc Đạt rất linh đình. Rượu
được vài hồi, tên Thái thú bắt đầu đưa ra những yêu sách, nếu
Hào trưởng họ Triệu không đáp ứng sẽ bị bắt giải về kinh đô nhà
Ngô. Nhưng y hứa sẽ tha cho Quốc Đạt nếu ông bằng lòng gả em
gái là Triệu Thị Trinh cho viên ngụy quan của y.
46
Sau khi cáo từ ra về, Triệu Quốc Đạt rất phân vân. Căm thù
lũ giặc hèn hạ và độc ác lại hiểu rất rõ tính cách của em gái, ông
biết em mình không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng nếu vậy thì
phong trào khởi nghĩa vừa nhen nhúm sẽ gặp nguy hiểm. Không
biết tính sao, ông bèn kể cho Thị Trinh nghe âm mưu hiểm độc
của kẻ thù cũng như lời cầu hôn của viên Thái thú.
47
Quả nhiên khi vừa nghe ông nói xong, Nàng Trinh vụt đứng
dậy khẳng khái đáp: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng
sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi giặc nước, giành
lại giang san, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.
48
 





