BẢN TIN
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
STN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:30' 13-12-2024
Dung lượng: 8.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:30' 13-12-2024
Dung lượng: 8.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ nhất
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Huy Khôi
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Mai hắc Đế - Bố Cái Đại Vương / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên
soạn ; họa sĩ Nguyễn Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
94 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.9).
1. Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), ?-722 . 2. Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa của Mai
Hắc đế, 713-722 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử
Việt Nam bằng tranh.
1. Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), ?-722. 2. Vietnam — History — Mai Hắc Đế's Rebellion,
713-722 — Pictorial works.
959.7013092 — dc 22
M217
LỜI GIỚI THIỆU
Dưới ách đô hộ bạo tàn của nhà Đường, sưu cao thuế nặng,
vơ vét sản vật đem về Trung Hoa, nhiều cuộc khởi nghĩa lớn
nhỏ đã nổ ra chống lại nhà Đường. Trong đó, phải kể đến cuộc
khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và Phùng Hưng.
Căm thù sự tàn bạo của bọn đô hộ, Mai Thúc Loan lãnh
đạo nhân dân khởi nghĩa ở Hoan châu. Được nhân dân hưởng
ứng, nghĩa quân ngày càng hùng mạnh, Mai Thúc Loan lên
ngôi vua, sử gọi là Mai Hắc Đế.
Sau thất bại của vua Mai, nước ta lại xuất hiện cuộc khở
nghĩa đáng chú ý của Phùng Hưng. Từ quy mô ở Đường Lâm
nhỏ hẹp, Phùng Hưng đã phát động cuộc khởi nghĩa có quy mô
lớn chống lại bọ đô hộ bạo tàn, chiếm lĩnh thành trì và phủ Đô
hộ, bắt tay vào việc coi sóc chính sự.
Tuy cả hai cuộc khởi nghĩa đều thất bại, nhưng xu thế độc
lập và tự chủ do nó đưa đến đã không còn có thể đảo ngược.
Đây cũng chính là tiền đề cho họ Khúc dựng nền tự chủ ở nước
ta sau này.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 9 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Mai Hắc Đế - Bố Cái Đại Vương”
phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do
Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 9 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Mai Thúc Loan lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hoan châu
nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường
Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713). Từ
thời điểm đánh chiếm Hoan châu, lên ngôi vua, củng cố
lực lượng, ông đã giải phóng toàn bộ đất nước và giữ
vững nền độc lập trong 10 năm (713-722).
Phùng Hưng phất cờ khởi nghĩa ở Đường Lâm, đuổi
được bọn quan đô hộ, nắm quyền chính sự. Khi mất, ông
được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương.
4
Đất nước ta đang bước vào thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Dù
liên tục bị lệ thuộc phong kiến phương bắc nhưng nhờ sức lao
động cần cù của dân chúng, xã hội nước ta lúc đó vẫn có những
tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Nông dân đã
trồng lúa hai mùa, cung cấp đủ gạo ăn cho dân chúng. Nghề trồng
dâu nuôi tằm, dệt lụa cũng rất phát triển. Dân ta còn trồng cây
ăn quả rất giỏi.
7
Về mặt văn hóa, cũng có nhiều đổi mới. Nhiều tư tưởng của
Trung Hoa hoặc của nước khác được du nhập vào đất nước ta.
Trước hết phải kể đến Nho giáo. Nho giáo là học thuyết do Khổng
Tử lập ra. Khổng Tử vốn là người nước Lỗ bên Trung Hoa, sinh
vào khoảng năm 550 trước Công nguyên. Ông từng đi chu du
nhiều nơi, tìm hiểu cách sống của con người, rút kinh nghiệm
và đúc kết nên lý thuyết của Nho giáo.
8
Ông đề cao 5 nguyên tắc sống: nhân (lòng thương người), lễ
(giáo dục, khuôn phép), nghĩa (hợp lẽ phải), trí (trí tuệ), tín
(biết trọng lời hứa, biết tin nhau). Ông chủ trương con người
lấy việc sửa mình làm gốc, trong gia đình và xã hội phải có
trật tự. Con phục tùng cha, vợ phục tùng chồng, dân phục tùng
vua. Nho giáo làm cho xã hội có nề nếp nhưng lại hạ thấp giá
trị của phụ nữ.
9
Nho giáo từ khi ra đời đã được nhiều người
theo. Trải qua thời gian, lần lần Nho giáo được
truyền vào đất Việt và được người Việt tiếp nhận
nhưng không phổ biến lắm. Chữ Hán được đem
dạy cho người Việt và nhân đó người Việt lại
dựa vào nguyên tắc viết của chữ Hán để tạo ra
một thứ chữ cho riêng mình. Thứ chữ này lần lần
được cải tiến và trở thành thông dụng trong người
Việt. Đó là chữ Nôm sau này.
10
Bên cạnh Nho giáo, Đạo giáo cũng được truyền vào đất Việt.
Đạo giáo là do ông Lão Tử sáng lập. Ông Lão Tử tên là Lý Đạm,
sinh vào năm 604 trước Công nguyên. Lão Tử khuyên con người
nên sống vô vi, điềm tĩnh. Nhưng về sau, Đạo giáo bị nhiễm tệ
mê tín dị đoan và tin vào thuật trường sinh bất tử. Khi truyền đến
đất Việt, Đạo giáo cũng thiên về thần tiên, phù thủy nên không
được nhiều người theo lắm.
11
Trong khi ấy, đạo Phật lại được hưng thịnh. Phù hợp với tâm
trạng của người Việt trong cảnh mất nước, đạo Phật đã phát triển
trên đất Việt. Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, con người bị ràng
buộc trong kiếp luân hồi. Muốn thoát khỏi cảnh ấy, con người
phải diệt dục, diệt lòng ham muốn để tiến tới Niết bàn. Rất nhiều
người dân đến với giáo lý nhà Phật để quên đi phần nào nỗi khổ
hàng ngày của họ.
12
Thật ra đạo Phật đã du nhập vào đất Việt từ thế kỷ thứ nhất theo
chân các nhà buôn Ấn Độ. Bản thân những nhà buôn này là những
người theo đạo Phật, trong thời gian ở tại đây, họ thắp hương cầu
Phật và có một số người đi theo nhưng không đáng kể. Sau đó
các tăng sĩ đến truyền giáo và trên đất Giao châu tín đồ Phật giáo
ngày càng nhiều.
13
Đến năm 580 sau Công nguyên, phái Thiền đầu tiên của Việt
Nam được Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) thành lập. Tỳ Ni Đa Lưu
Chi vốn người gốc ở Nam Thiên Trúc (Ấn Độ). Ông đi hành đạo
từ Thiên Trúc, đến Trung Hoa rồi xuôi đến Giao châu và trụ trì
tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu) ở làng Cổ Châu (Long Biên). Tại
đây ông thu nhận đệ tử, truyền giáo lý nhà Phật, chú trọng đến
việc tu tâm cho có được tấm lòng chân thành.
14
Phật giáo càng ngày càng phát triển trên đất Việt. Nhiều chùa
được xây lên và nhiều người trở thành tín đồ đạo Phật. Nhiều thiền
sư truyền nối nhau dịch kinh sách và dạy đạo cho mọi người.
Họ còn xem mạch, bốc thuốc chữa bệnh cho dân chúng. Giáo lý
nhà Phật lại có nhiều điểm hợp với lối sống của người Việt nên
dần dần đạo Phật chiếm địa vị cao nhất trong ba tôn giáo.
15
Năm 602, sau 60 năm tạm thời tự chủ, nước Vạn Xuân do Lý
Nam Đế thành lập đã bị nhà Tùy phái hơn 10 vạn quân sang xâm
lược. Quân Tùy thế mạnh như chẻ tre, ào ạt tiến vào đất Vạn Xuân
và vây thành Cổ Loa rất ngặt. Vua nước Vạn Xuân lúc bấy giờ
là Lý Phật Tử chống cự không được, phải đầu hàng. Vua bị giải
về giam ở Trung Quốc. Và nước Vạn Xuân lại lâm vào cảnh lệ
thuộc nhà Tùy.
16
Nhà Tùy làm chủ nước Trung Hoa không được bao lâu. Năm
618, nhà Đường thay thế nhà Tùy thống trị Trung Hoa. Trong các
triều đại, nhà Đường cai trị đất Việt lâu dài nhất và khắc nghiệt
nhất. Để tăng cường đàn áp, nhà Đường tiến hành xây thành đắp
lũy, mở mang đường sá. Dân chúng hàng năm phải đi phu, làm
lao dịch cho chính quyền đô hộ từ 20 đến 50 ngày. Đấy là chưa
kể các bọn quan tham, lợi dụng quyền lực bắt dân phu đóng tô, đi
phu lao dịch quá hạn định.
17
Những sản vật quí giá của nước Vạn Xuân lại bị vơ vét đưa về
Trung Hoa. Dân Vạn Xuân phải xuống biển mò ngọc trai, bắt đồi
mồi, lên rừng kiếm ngà voi, sừng tê, trầm hương, đào vàng đãi bạc
đem cống cho nhà Đường. Ngoài những sản vật thiên nhiên, nhà
Đường còn rất thích tơ lụa và các loại quả ngon của xứ Vạn Xuân.
18
Ngoài việc áp đặt ra thuế khóa lao dịch, nhà Đường còn sửa
lại chế độ hành chính của nước Vạn Xuân. Năm 679 sau Công
nguyên, nhà Đường đặt ra An Nam Đô hộ phủ gồm có 12 châu
59 huyện, trong đó có các châu quan trọng như châu Giao, châu
Ái, châu Hoan, châu Diễn. Châu Giao nằm ở đồng bằng Bắc Bộ
có trị sở là thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay), châu Ái ở đồng
bằng sông Mã (Thanh Hóa) còn châu Diễn và châu Hoan thì
nằm ở đồng bằng sông Cả (Nghệ An).
19
An Nam Đô hộ phủ bị đặt dưới sự cai trị của quan An Nam Đô
hộ. Thời bấy giờ có quan Đô hộ là Lưu Diên Hựu rất tham lam,
tăng phần tô thuế của dân chúng lên để tha hồ vơ vét. Trước sự áp
bức, bất công, dân Việt liên tiếp nổi dậy. Trong các cuộc nổi dậy,
có cuộc khởi nghĩa của người dân tộc thiểu số, cầm đầu là Lý
Tự Tiên. Lưu Diên Hựu đem quân đàn áp và giết được Lý Tự Tiên.
20
Một người anh hùng khác là Đinh Kiến, nối nghiệp Lý Tự Tiên,
tập họp dân chúng tấn công vây thành Tống Bình (Hà Nội ngày
nay), và chẳng bao lâu thì phá vỡ được thành, giết được Lưu Diên
Hựu. Nhà Đường liền phái đại quân sang. Trước sức mạnh như
vũ bão của quân Đường, Đinh Kiến bị thua và bị giết.
21
Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng lòng người Việt không
khi nào nguôi ý chí quật cường. Lúc ấy, ở châu Hoan có Mai
Thúc Loan là người nghĩa khí. Tương truyền Mai Thúc Loan
quê ở Mai Phụ (Hà Tĩnh ngày nay). Vì nhà nghèo, chàng lưu
lạc đến sống ở vùng Ngọc Trừng (Nghệ An). Anh không nề hà
công việc nặng nhọc nào mà lại luôn luôn vui vẻ và hay giúp đỡ
mọi người. Anh có dáng người to lớn, nước da đen, có sức khỏe
và rất giỏi đấu vật.
22
Để trốn cảnh khắc nghiệt do quan quân nhà Đường gây ra, dân
chúng nhiều người trốn vào rừng rậm, sống cùng muông thú chứ
không chịu cảnh nô lệ. Số người khác uất ức, nổi lên cướp phá
sống không cần ngày mai. Thông cảm được tâm tình của dân Việt,
Mai Thúc Loan đứng lên, kêu gọi mọi người trở về, hàng phục
được các toán cướp, qui tụ được dân chúng của 32 châu.
23
Căm phẫn với sự đô hộ vô cùng khắc nghiệt của nhà Đường,
khởi nghĩa Hoan châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo đã nổ ra vào năm
713 tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Được lời hiệu triệu
của ông, nơi nơi như mở tấm lòng. Hào kiệt nô nức hưởng ứng, kéo
về tụ tập dưới cờ nghĩa sẵn sàng vì nước quên mình.
24
Mai Thúc Loan chọn vùng Sa Nam (Nghệ An), một vùng
hiểm trở với sông Lam sâu rộng và núi Đụn (Hùng Sơn) cheo leo
làm căn cứ địa. Tại đây ông cho xây thành Vạn An để đặt đại
bản doanh. Vạn An là một đồn lũy chạy dài cả ngàn mét, lưng dựa
vào núi Đụn, trước mặt là sông Lam, bên cạnh là thung lũng rộng
rãi để trữ lương thực, vũ khí. Quả là một nơi phòng thủ chắc chắn.
25
26
Thấy thế lực đã mạnh, Mai Thúc Loan bèn
xưng đế, lấy thành Vạn An làm kinh đô. Vì nước
da đen đặc biệt của ông, dân chúng thường gọi ông
là Mai Hắc Đế (vua Đen họ Mai). Thanh thế của
Mai Hắc Đế ngày càng lừng lẫy. Ông làm chủ cả
vùng đất Hoan, Diễn, Ái. Ông còn liên kết được
với các nước láng giềng là Chiêm Thành, Chân
Lạp và cả Malaysia để hình thành một mặt trận
liên hoàn chống nhà Đường.
27
Sau khi quân đông lên đến hàng chục vạn người, Mai Hắc Đế
liền cho quân tiến ra đồng bằng Bắc bộ, vây đánh thành Tống
Bình. Quan Đô hộ là Quang Sở Khách chống không lại, phải chạy
trốn. Mai Hắc Đế làm chủ được thành Tống Bình, giành lại độc
lập dân tộc. Từ đó, Mai Hắc Đế lo xây dựng đất nước và không
quên việc phòng thủ.
28
Bấy giờ nhà Đường
đang ở thời cực thịnh dưới
triều của Đường Huyền Tông,
kinh tế, quân sự vô cùng phát triển. Thấy Quang Sở Khách thua
trận, Đường Huyền Tông vô cùng tức giận, sai tướng thân tín là
Dương Tu Húc đem 10 vạn quân thiện chiến, theo lộ trình xưa
của Mã Viện, chớp nhoáng tiến vào đất Việt. Trong khi quân của
Mai Hắc Đế còn chưa kịp chuẩn bị thì quân Đường bất thình lình
tấn công vào bản doanh của quân khởi nghĩa và thẳng tay tàn sát.
29
Mai Hắc Đế phải rút vào rừng cố
thủ, nhưng ma thiêng nước độc đã quật
ngã ông. Ông bệnh chết trong rừng.
Trong khi đó, để trấn áp mầm mống
phục hồi của quân khởi nghĩa, nhà
Đường ra sức khủng bố. Dân Việt bị
giết chết vô số, thây không kịp chôn,
chất cao thành gò. Một tội ác mà
cho đến nay sử sách còn ghi.
30
Nhà Đường lập lại chế độ đô hộ nhưng không còn dám bắt dân
Việt đem cống vải nữa. Lệ cống vải từ đó mất hẳn. Để đánh dấu
thoát nạn cống quả vải nhờ công lao của Mai Hắc Đế, dân chúng
truyền tụng câu thơ:
Cống vải từ nay Đường phải dứt,
Dân nước đời đời hưởng phước chung.
31
32
Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế tuy bị tan rã, nhưng dân chúng
vẫn luôn nhớ đến ông. Một ngôi đền thờ người anh hùng họ Mai
được lập ở núi Vệ, quanh năm nghi ngút hương khói. Trong dân
gian có bài thơ tưởng nhớ uy đức của Mai Hắc Đế:
Hùng cứ châu Hoan đất một vùng,
Vạn An thành lũy khói hương xông.
Bốn phương Mai đế lừng uy đức,
Trăm trận Lý Đường phục võ công.
33
34
Gần núi Tản Viên, có một xã tên là Đường Lâm, ngày nay thuộc
thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Đây là một vùng đất cổ kính, đã từng là
căn cứ của bà Man Thiện, mẹ của Hai Bà Trưng. Tại căn cứ này, bà
Man Thiện đã thao luyện quân sĩ, và từ đó xuất quân để phối hợp
với quân của Hai Bà, đánh đuổi được viên Thái thú tham ô Tô Định
vào năm 40 sau Công nguyên.
37
Đường Lâm còn là nơi sản sinh nhiều anh hùng dân tộc, đó là
nơi chôn nhau cắt rốn của hai vị tướng của Hai Bà Trưng là
Chiêu Trưng và Đỗ Lý và cũng là quê hương của hai vị anh hùng
của dân tộc Việt Nam là Bố Cái Đại vương và Ngô Quyền. Vùng
đất này càng thêm vẻ cổ kính với các kiến trúc bằng đá ong. Đâu
đâu cũng thấy đá ong, từ cái giếng cho đến cổng làng, cột đình,
ngôi mộ, nhà thờ họ...
38
Chùa Sùng Nghiêm (chùa Mía) tọa lạc ở xã Đường Lâm, Huyện Ba Vì, Hà Tây
Ảnh: Lấy từ sách “NHững ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam”, Võ Văn Tường
Trong không gian tràn ngập màu sắc đá ong ấy lại chứa chất
nhiều di tích lịch sử và văn hóa, đem lại cho Đường Lâm một dáng
vẻ đặc sắc mà không nơi nào có được. Chẳng hạn như chùa Mèn
thờ bà Man Thiện; miếu thờ bà Lê Thị Lan, nữ tướng của Hai Bà
Trưng; đình Mông Phụ... Ở thôn Đông Sàng còn có chùa Mía do
bà Lê Thị Rong, con gái làng Mía (tên của Đường Lâm thời ấy)
và là vợ của chúa Trịnh Tráng tạo dựng.
39
Đường Lâm còn có Quán Sứ, là một ngôi nhà cổ dùng làm nơi
quàn thi hài những người anh hùng, liệt sĩ. Quán Sứ liên quan đến
một nhân vật là Thám hoa Giang Văn Minh, người làng Đường
Lâm. Ông là một người tiết tháo, khi đi sứ sang nhà Minh, để xin
cầu phong cho vua Lê (1637), bị vua Minh làm nhục, đã khẳng
khái đối đáp khiến vua Minh tức giận, sai mổ bụng giết chết.
40
Thi hài ông được đưa về nước và khi rước về qua làng Đường
Lâm thì dân làng ra đón xác và xin vua Lê cho được chôn sứ thần
tại quê nhà. Vua truy phong cho Thám hoa tước “Công bộ Thị
lang Minh Quận công” và chuẩn y thỉnh nguyện của dân làng.
Thi hài của Thám hoa được quàn tại ngôi nhà Quán Sứ này trước
khi được đem đi chôn cất. Từ đấy nhà Quán Sứ trở thành nơi quàn
các chiến sĩ bỏ mình vì nước.
41
Đường Lâm còn có đền thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng,
còn có lăng Ngô Quyền... Nơi thờ hai vị anh hùng dân tộc này
nằm không cách xa nhau bao nhiêu, chỉ khoảng 300m, trên vùng
đồi nghiêng nghiêng. Đền và lăng đều giữ được vẻ kiến trúc
cổ xưa. Hàng năm vẫn có lễ hội tưởng nhớ đến những chiến tích
một thời hào hùng của hai người con xã Đường Lâm.
42
Lăng Ngô Quyền tại Đường Lâm
Phong cảnh Đường Lâm Ảnh: Đức Hòa
43
Đường Lâm còn là một vùng trồng mía, làm đường nổi tiếng. Vì
thế có những tên gọi liên quan đến các hoạt động này như: Đường
Lâm, chùa Mía, phố Mía... Đó là hình ảnh của mía, của mật, của
đường qua các câu ví von như sau:
“Lên phố Mía,
Gặp cô hàng mật,
Nắm lấy tay, hỏi đường”.
44
Ở thôn Cam Lâm, một trong bảy
thôn của xã Đường Lâm, vào khoảng
nửa đầu thế kỷ thứ 8, có gia đình họ
Phùng, thuộc dòng dõi Quan lang,
giàu có và có uy tín lớn. Theo truyền
thuyết, bà Phùng sinh ra ba người
con trai đĩnh ngộ, thông minh. Đó là
Phùng Hưng, Phùng Hải và Phùng
Dĩnh. Khi lớn lên, người anh cả là
Phùng Hưng được nối nghiệp cha,
làm hào trưởng Đường Lâm.
45
46
Cả ba anh em đều có sức khỏe hơn người.
Phùng Hưng người cao lớn, mặt mũi khôi ngô,
tính tình hòa nhã, có sức mạnh bẻ gãy sừng
trâu, tay không bắt hổ. Phùng Hải vác được
đá nặng ngàn cân, hoặc vác thuyền nhỏ chở
ngàn hộc lúa mà có thể đi xa hơn 10 dặm.
Phùng Dĩnh cũng không kém gì hai anh, một
mình vật ngã được cả mười chàng thanh niên
cường tráng.
47
Ba anh em rất siêng năng tập luyện võ nghệ. Mỗi ngày, gà vừa
gáy sáng là ba anh em đã thức dậy, kẻ cung, người côn, kiếm cùng
nhau quần thảo. Họ cũng không quên dùi mài kinh sử.
Sách sử, sách binh thư được họ nghiền ngẫm và cùng
nhau thảo luận để hiểu được hết ý nghĩa của người
xưa. Ngoài ra, họ còn hay đi chu du để
tìm hiểu đất nước và dân tình.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Huy Khôi
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Mai hắc Đế - Bố Cái Đại Vương / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên
soạn ; họa sĩ Nguyễn Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
94 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.9).
1. Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), ?-722 . 2. Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa của Mai
Hắc đế, 713-722 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử
Việt Nam bằng tranh.
1. Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), ?-722. 2. Vietnam — History — Mai Hắc Đế's Rebellion,
713-722 — Pictorial works.
959.7013092 — dc 22
M217
LỜI GIỚI THIỆU
Dưới ách đô hộ bạo tàn của nhà Đường, sưu cao thuế nặng,
vơ vét sản vật đem về Trung Hoa, nhiều cuộc khởi nghĩa lớn
nhỏ đã nổ ra chống lại nhà Đường. Trong đó, phải kể đến cuộc
khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và Phùng Hưng.
Căm thù sự tàn bạo của bọn đô hộ, Mai Thúc Loan lãnh
đạo nhân dân khởi nghĩa ở Hoan châu. Được nhân dân hưởng
ứng, nghĩa quân ngày càng hùng mạnh, Mai Thúc Loan lên
ngôi vua, sử gọi là Mai Hắc Đế.
Sau thất bại của vua Mai, nước ta lại xuất hiện cuộc khở
nghĩa đáng chú ý của Phùng Hưng. Từ quy mô ở Đường Lâm
nhỏ hẹp, Phùng Hưng đã phát động cuộc khởi nghĩa có quy mô
lớn chống lại bọ đô hộ bạo tàn, chiếm lĩnh thành trì và phủ Đô
hộ, bắt tay vào việc coi sóc chính sự.
Tuy cả hai cuộc khởi nghĩa đều thất bại, nhưng xu thế độc
lập và tự chủ do nó đưa đến đã không còn có thể đảo ngược.
Đây cũng chính là tiền đề cho họ Khúc dựng nền tự chủ ở nước
ta sau này.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 9 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Mai Hắc Đế - Bố Cái Đại Vương”
phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do
Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 9 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Mai Thúc Loan lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hoan châu
nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường
Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713). Từ
thời điểm đánh chiếm Hoan châu, lên ngôi vua, củng cố
lực lượng, ông đã giải phóng toàn bộ đất nước và giữ
vững nền độc lập trong 10 năm (713-722).
Phùng Hưng phất cờ khởi nghĩa ở Đường Lâm, đuổi
được bọn quan đô hộ, nắm quyền chính sự. Khi mất, ông
được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương.
4
Đất nước ta đang bước vào thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Dù
liên tục bị lệ thuộc phong kiến phương bắc nhưng nhờ sức lao
động cần cù của dân chúng, xã hội nước ta lúc đó vẫn có những
tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Nông dân đã
trồng lúa hai mùa, cung cấp đủ gạo ăn cho dân chúng. Nghề trồng
dâu nuôi tằm, dệt lụa cũng rất phát triển. Dân ta còn trồng cây
ăn quả rất giỏi.
7
Về mặt văn hóa, cũng có nhiều đổi mới. Nhiều tư tưởng của
Trung Hoa hoặc của nước khác được du nhập vào đất nước ta.
Trước hết phải kể đến Nho giáo. Nho giáo là học thuyết do Khổng
Tử lập ra. Khổng Tử vốn là người nước Lỗ bên Trung Hoa, sinh
vào khoảng năm 550 trước Công nguyên. Ông từng đi chu du
nhiều nơi, tìm hiểu cách sống của con người, rút kinh nghiệm
và đúc kết nên lý thuyết của Nho giáo.
8
Ông đề cao 5 nguyên tắc sống: nhân (lòng thương người), lễ
(giáo dục, khuôn phép), nghĩa (hợp lẽ phải), trí (trí tuệ), tín
(biết trọng lời hứa, biết tin nhau). Ông chủ trương con người
lấy việc sửa mình làm gốc, trong gia đình và xã hội phải có
trật tự. Con phục tùng cha, vợ phục tùng chồng, dân phục tùng
vua. Nho giáo làm cho xã hội có nề nếp nhưng lại hạ thấp giá
trị của phụ nữ.
9
Nho giáo từ khi ra đời đã được nhiều người
theo. Trải qua thời gian, lần lần Nho giáo được
truyền vào đất Việt và được người Việt tiếp nhận
nhưng không phổ biến lắm. Chữ Hán được đem
dạy cho người Việt và nhân đó người Việt lại
dựa vào nguyên tắc viết của chữ Hán để tạo ra
một thứ chữ cho riêng mình. Thứ chữ này lần lần
được cải tiến và trở thành thông dụng trong người
Việt. Đó là chữ Nôm sau này.
10
Bên cạnh Nho giáo, Đạo giáo cũng được truyền vào đất Việt.
Đạo giáo là do ông Lão Tử sáng lập. Ông Lão Tử tên là Lý Đạm,
sinh vào năm 604 trước Công nguyên. Lão Tử khuyên con người
nên sống vô vi, điềm tĩnh. Nhưng về sau, Đạo giáo bị nhiễm tệ
mê tín dị đoan và tin vào thuật trường sinh bất tử. Khi truyền đến
đất Việt, Đạo giáo cũng thiên về thần tiên, phù thủy nên không
được nhiều người theo lắm.
11
Trong khi ấy, đạo Phật lại được hưng thịnh. Phù hợp với tâm
trạng của người Việt trong cảnh mất nước, đạo Phật đã phát triển
trên đất Việt. Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, con người bị ràng
buộc trong kiếp luân hồi. Muốn thoát khỏi cảnh ấy, con người
phải diệt dục, diệt lòng ham muốn để tiến tới Niết bàn. Rất nhiều
người dân đến với giáo lý nhà Phật để quên đi phần nào nỗi khổ
hàng ngày của họ.
12
Thật ra đạo Phật đã du nhập vào đất Việt từ thế kỷ thứ nhất theo
chân các nhà buôn Ấn Độ. Bản thân những nhà buôn này là những
người theo đạo Phật, trong thời gian ở tại đây, họ thắp hương cầu
Phật và có một số người đi theo nhưng không đáng kể. Sau đó
các tăng sĩ đến truyền giáo và trên đất Giao châu tín đồ Phật giáo
ngày càng nhiều.
13
Đến năm 580 sau Công nguyên, phái Thiền đầu tiên của Việt
Nam được Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) thành lập. Tỳ Ni Đa Lưu
Chi vốn người gốc ở Nam Thiên Trúc (Ấn Độ). Ông đi hành đạo
từ Thiên Trúc, đến Trung Hoa rồi xuôi đến Giao châu và trụ trì
tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu) ở làng Cổ Châu (Long Biên). Tại
đây ông thu nhận đệ tử, truyền giáo lý nhà Phật, chú trọng đến
việc tu tâm cho có được tấm lòng chân thành.
14
Phật giáo càng ngày càng phát triển trên đất Việt. Nhiều chùa
được xây lên và nhiều người trở thành tín đồ đạo Phật. Nhiều thiền
sư truyền nối nhau dịch kinh sách và dạy đạo cho mọi người.
Họ còn xem mạch, bốc thuốc chữa bệnh cho dân chúng. Giáo lý
nhà Phật lại có nhiều điểm hợp với lối sống của người Việt nên
dần dần đạo Phật chiếm địa vị cao nhất trong ba tôn giáo.
15
Năm 602, sau 60 năm tạm thời tự chủ, nước Vạn Xuân do Lý
Nam Đế thành lập đã bị nhà Tùy phái hơn 10 vạn quân sang xâm
lược. Quân Tùy thế mạnh như chẻ tre, ào ạt tiến vào đất Vạn Xuân
và vây thành Cổ Loa rất ngặt. Vua nước Vạn Xuân lúc bấy giờ
là Lý Phật Tử chống cự không được, phải đầu hàng. Vua bị giải
về giam ở Trung Quốc. Và nước Vạn Xuân lại lâm vào cảnh lệ
thuộc nhà Tùy.
16
Nhà Tùy làm chủ nước Trung Hoa không được bao lâu. Năm
618, nhà Đường thay thế nhà Tùy thống trị Trung Hoa. Trong các
triều đại, nhà Đường cai trị đất Việt lâu dài nhất và khắc nghiệt
nhất. Để tăng cường đàn áp, nhà Đường tiến hành xây thành đắp
lũy, mở mang đường sá. Dân chúng hàng năm phải đi phu, làm
lao dịch cho chính quyền đô hộ từ 20 đến 50 ngày. Đấy là chưa
kể các bọn quan tham, lợi dụng quyền lực bắt dân phu đóng tô, đi
phu lao dịch quá hạn định.
17
Những sản vật quí giá của nước Vạn Xuân lại bị vơ vét đưa về
Trung Hoa. Dân Vạn Xuân phải xuống biển mò ngọc trai, bắt đồi
mồi, lên rừng kiếm ngà voi, sừng tê, trầm hương, đào vàng đãi bạc
đem cống cho nhà Đường. Ngoài những sản vật thiên nhiên, nhà
Đường còn rất thích tơ lụa và các loại quả ngon của xứ Vạn Xuân.
18
Ngoài việc áp đặt ra thuế khóa lao dịch, nhà Đường còn sửa
lại chế độ hành chính của nước Vạn Xuân. Năm 679 sau Công
nguyên, nhà Đường đặt ra An Nam Đô hộ phủ gồm có 12 châu
59 huyện, trong đó có các châu quan trọng như châu Giao, châu
Ái, châu Hoan, châu Diễn. Châu Giao nằm ở đồng bằng Bắc Bộ
có trị sở là thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay), châu Ái ở đồng
bằng sông Mã (Thanh Hóa) còn châu Diễn và châu Hoan thì
nằm ở đồng bằng sông Cả (Nghệ An).
19
An Nam Đô hộ phủ bị đặt dưới sự cai trị của quan An Nam Đô
hộ. Thời bấy giờ có quan Đô hộ là Lưu Diên Hựu rất tham lam,
tăng phần tô thuế của dân chúng lên để tha hồ vơ vét. Trước sự áp
bức, bất công, dân Việt liên tiếp nổi dậy. Trong các cuộc nổi dậy,
có cuộc khởi nghĩa của người dân tộc thiểu số, cầm đầu là Lý
Tự Tiên. Lưu Diên Hựu đem quân đàn áp và giết được Lý Tự Tiên.
20
Một người anh hùng khác là Đinh Kiến, nối nghiệp Lý Tự Tiên,
tập họp dân chúng tấn công vây thành Tống Bình (Hà Nội ngày
nay), và chẳng bao lâu thì phá vỡ được thành, giết được Lưu Diên
Hựu. Nhà Đường liền phái đại quân sang. Trước sức mạnh như
vũ bão của quân Đường, Đinh Kiến bị thua và bị giết.
21
Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng lòng người Việt không
khi nào nguôi ý chí quật cường. Lúc ấy, ở châu Hoan có Mai
Thúc Loan là người nghĩa khí. Tương truyền Mai Thúc Loan
quê ở Mai Phụ (Hà Tĩnh ngày nay). Vì nhà nghèo, chàng lưu
lạc đến sống ở vùng Ngọc Trừng (Nghệ An). Anh không nề hà
công việc nặng nhọc nào mà lại luôn luôn vui vẻ và hay giúp đỡ
mọi người. Anh có dáng người to lớn, nước da đen, có sức khỏe
và rất giỏi đấu vật.
22
Để trốn cảnh khắc nghiệt do quan quân nhà Đường gây ra, dân
chúng nhiều người trốn vào rừng rậm, sống cùng muông thú chứ
không chịu cảnh nô lệ. Số người khác uất ức, nổi lên cướp phá
sống không cần ngày mai. Thông cảm được tâm tình của dân Việt,
Mai Thúc Loan đứng lên, kêu gọi mọi người trở về, hàng phục
được các toán cướp, qui tụ được dân chúng của 32 châu.
23
Căm phẫn với sự đô hộ vô cùng khắc nghiệt của nhà Đường,
khởi nghĩa Hoan châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo đã nổ ra vào năm
713 tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Được lời hiệu triệu
của ông, nơi nơi như mở tấm lòng. Hào kiệt nô nức hưởng ứng, kéo
về tụ tập dưới cờ nghĩa sẵn sàng vì nước quên mình.
24
Mai Thúc Loan chọn vùng Sa Nam (Nghệ An), một vùng
hiểm trở với sông Lam sâu rộng và núi Đụn (Hùng Sơn) cheo leo
làm căn cứ địa. Tại đây ông cho xây thành Vạn An để đặt đại
bản doanh. Vạn An là một đồn lũy chạy dài cả ngàn mét, lưng dựa
vào núi Đụn, trước mặt là sông Lam, bên cạnh là thung lũng rộng
rãi để trữ lương thực, vũ khí. Quả là một nơi phòng thủ chắc chắn.
25
26
Thấy thế lực đã mạnh, Mai Thúc Loan bèn
xưng đế, lấy thành Vạn An làm kinh đô. Vì nước
da đen đặc biệt của ông, dân chúng thường gọi ông
là Mai Hắc Đế (vua Đen họ Mai). Thanh thế của
Mai Hắc Đế ngày càng lừng lẫy. Ông làm chủ cả
vùng đất Hoan, Diễn, Ái. Ông còn liên kết được
với các nước láng giềng là Chiêm Thành, Chân
Lạp và cả Malaysia để hình thành một mặt trận
liên hoàn chống nhà Đường.
27
Sau khi quân đông lên đến hàng chục vạn người, Mai Hắc Đế
liền cho quân tiến ra đồng bằng Bắc bộ, vây đánh thành Tống
Bình. Quan Đô hộ là Quang Sở Khách chống không lại, phải chạy
trốn. Mai Hắc Đế làm chủ được thành Tống Bình, giành lại độc
lập dân tộc. Từ đó, Mai Hắc Đế lo xây dựng đất nước và không
quên việc phòng thủ.
28
Bấy giờ nhà Đường
đang ở thời cực thịnh dưới
triều của Đường Huyền Tông,
kinh tế, quân sự vô cùng phát triển. Thấy Quang Sở Khách thua
trận, Đường Huyền Tông vô cùng tức giận, sai tướng thân tín là
Dương Tu Húc đem 10 vạn quân thiện chiến, theo lộ trình xưa
của Mã Viện, chớp nhoáng tiến vào đất Việt. Trong khi quân của
Mai Hắc Đế còn chưa kịp chuẩn bị thì quân Đường bất thình lình
tấn công vào bản doanh của quân khởi nghĩa và thẳng tay tàn sát.
29
Mai Hắc Đế phải rút vào rừng cố
thủ, nhưng ma thiêng nước độc đã quật
ngã ông. Ông bệnh chết trong rừng.
Trong khi đó, để trấn áp mầm mống
phục hồi của quân khởi nghĩa, nhà
Đường ra sức khủng bố. Dân Việt bị
giết chết vô số, thây không kịp chôn,
chất cao thành gò. Một tội ác mà
cho đến nay sử sách còn ghi.
30
Nhà Đường lập lại chế độ đô hộ nhưng không còn dám bắt dân
Việt đem cống vải nữa. Lệ cống vải từ đó mất hẳn. Để đánh dấu
thoát nạn cống quả vải nhờ công lao của Mai Hắc Đế, dân chúng
truyền tụng câu thơ:
Cống vải từ nay Đường phải dứt,
Dân nước đời đời hưởng phước chung.
31
32
Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế tuy bị tan rã, nhưng dân chúng
vẫn luôn nhớ đến ông. Một ngôi đền thờ người anh hùng họ Mai
được lập ở núi Vệ, quanh năm nghi ngút hương khói. Trong dân
gian có bài thơ tưởng nhớ uy đức của Mai Hắc Đế:
Hùng cứ châu Hoan đất một vùng,
Vạn An thành lũy khói hương xông.
Bốn phương Mai đế lừng uy đức,
Trăm trận Lý Đường phục võ công.
33
34
Gần núi Tản Viên, có một xã tên là Đường Lâm, ngày nay thuộc
thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Đây là một vùng đất cổ kính, đã từng là
căn cứ của bà Man Thiện, mẹ của Hai Bà Trưng. Tại căn cứ này, bà
Man Thiện đã thao luyện quân sĩ, và từ đó xuất quân để phối hợp
với quân của Hai Bà, đánh đuổi được viên Thái thú tham ô Tô Định
vào năm 40 sau Công nguyên.
37
Đường Lâm còn là nơi sản sinh nhiều anh hùng dân tộc, đó là
nơi chôn nhau cắt rốn của hai vị tướng của Hai Bà Trưng là
Chiêu Trưng và Đỗ Lý và cũng là quê hương của hai vị anh hùng
của dân tộc Việt Nam là Bố Cái Đại vương và Ngô Quyền. Vùng
đất này càng thêm vẻ cổ kính với các kiến trúc bằng đá ong. Đâu
đâu cũng thấy đá ong, từ cái giếng cho đến cổng làng, cột đình,
ngôi mộ, nhà thờ họ...
38
Chùa Sùng Nghiêm (chùa Mía) tọa lạc ở xã Đường Lâm, Huyện Ba Vì, Hà Tây
Ảnh: Lấy từ sách “NHững ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam”, Võ Văn Tường
Trong không gian tràn ngập màu sắc đá ong ấy lại chứa chất
nhiều di tích lịch sử và văn hóa, đem lại cho Đường Lâm một dáng
vẻ đặc sắc mà không nơi nào có được. Chẳng hạn như chùa Mèn
thờ bà Man Thiện; miếu thờ bà Lê Thị Lan, nữ tướng của Hai Bà
Trưng; đình Mông Phụ... Ở thôn Đông Sàng còn có chùa Mía do
bà Lê Thị Rong, con gái làng Mía (tên của Đường Lâm thời ấy)
và là vợ của chúa Trịnh Tráng tạo dựng.
39
Đường Lâm còn có Quán Sứ, là một ngôi nhà cổ dùng làm nơi
quàn thi hài những người anh hùng, liệt sĩ. Quán Sứ liên quan đến
một nhân vật là Thám hoa Giang Văn Minh, người làng Đường
Lâm. Ông là một người tiết tháo, khi đi sứ sang nhà Minh, để xin
cầu phong cho vua Lê (1637), bị vua Minh làm nhục, đã khẳng
khái đối đáp khiến vua Minh tức giận, sai mổ bụng giết chết.
40
Thi hài ông được đưa về nước và khi rước về qua làng Đường
Lâm thì dân làng ra đón xác và xin vua Lê cho được chôn sứ thần
tại quê nhà. Vua truy phong cho Thám hoa tước “Công bộ Thị
lang Minh Quận công” và chuẩn y thỉnh nguyện của dân làng.
Thi hài của Thám hoa được quàn tại ngôi nhà Quán Sứ này trước
khi được đem đi chôn cất. Từ đấy nhà Quán Sứ trở thành nơi quàn
các chiến sĩ bỏ mình vì nước.
41
Đường Lâm còn có đền thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng,
còn có lăng Ngô Quyền... Nơi thờ hai vị anh hùng dân tộc này
nằm không cách xa nhau bao nhiêu, chỉ khoảng 300m, trên vùng
đồi nghiêng nghiêng. Đền và lăng đều giữ được vẻ kiến trúc
cổ xưa. Hàng năm vẫn có lễ hội tưởng nhớ đến những chiến tích
một thời hào hùng của hai người con xã Đường Lâm.
42
Lăng Ngô Quyền tại Đường Lâm
Phong cảnh Đường Lâm Ảnh: Đức Hòa
43
Đường Lâm còn là một vùng trồng mía, làm đường nổi tiếng. Vì
thế có những tên gọi liên quan đến các hoạt động này như: Đường
Lâm, chùa Mía, phố Mía... Đó là hình ảnh của mía, của mật, của
đường qua các câu ví von như sau:
“Lên phố Mía,
Gặp cô hàng mật,
Nắm lấy tay, hỏi đường”.
44
Ở thôn Cam Lâm, một trong bảy
thôn của xã Đường Lâm, vào khoảng
nửa đầu thế kỷ thứ 8, có gia đình họ
Phùng, thuộc dòng dõi Quan lang,
giàu có và có uy tín lớn. Theo truyền
thuyết, bà Phùng sinh ra ba người
con trai đĩnh ngộ, thông minh. Đó là
Phùng Hưng, Phùng Hải và Phùng
Dĩnh. Khi lớn lên, người anh cả là
Phùng Hưng được nối nghiệp cha,
làm hào trưởng Đường Lâm.
45
46
Cả ba anh em đều có sức khỏe hơn người.
Phùng Hưng người cao lớn, mặt mũi khôi ngô,
tính tình hòa nhã, có sức mạnh bẻ gãy sừng
trâu, tay không bắt hổ. Phùng Hải vác được
đá nặng ngàn cân, hoặc vác thuyền nhỏ chở
ngàn hộc lúa mà có thể đi xa hơn 10 dặm.
Phùng Dĩnh cũng không kém gì hai anh, một
mình vật ngã được cả mười chàng thanh niên
cường tráng.
47
Ba anh em rất siêng năng tập luyện võ nghệ. Mỗi ngày, gà vừa
gáy sáng là ba anh em đã thức dậy, kẻ cung, người côn, kiếm cùng
nhau quần thảo. Họ cũng không quên dùi mài kinh sử.
Sách sử, sách binh thư được họ nghiền ngẫm và cùng
nhau thảo luận để hiểu được hết ý nghĩa của người
xưa. Ngoài ra, họ còn hay đi chu du để
tìm hiểu đất nước và dân tình.
48
 





