DANH NGÔN HAY

Thế giới vô cùng vĩ đại. Cặp mắt của bạn chỉ thấy được một phần nhỏ bé không đáng kể. Bởi vậy bạn hãy tìm lấy các sự kiện ở trong sách. Hãy tích lũy đều đặn hàng ngày các sự kiện ấy (V.Ôbrưsép)

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

TRUYỆN ĐỌC TRONG SÁCH- SƯU TẦM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Tết Nguyên Đán Việt Nam là dịp thiêng liêng để đoàn viên gia đình, tưởng nhớ tổ tiên và cội nguồn, bày tỏ lòng biết ơn thần linh, đồng thời là biểu tượng cho sự khởi đầu mới, hy vọng vào một năm mới an khang, thịnh vượng, gác lại điều không may của năm cũ. Tết là khoảnh khắc giao hòa giữa trời đất và con người, kết nối tình thân và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7335251847973_c5b30c35eb97fd3fde3a79879c2e83de.jpg Z7335251844968_bd489058fb43609505e3dbaac950ff13.jpg Z7335251836670_666ae0c6c91f8438f1a22e7d77edaf7f.jpg Z6067290810969_47c663cf604de88cf7dcc2c5578ec3e9.jpg Z6067291122052_976a842e05b1b8bd975bfd109e4e19a7.jpg Z6067291084678_b84ce716530d124b22147ff4563e56ae.jpg Z6067291046006_12a3bc33c27e7e40da56c0468d75aeee.jpg Z6067290850285_f5c10e744efd9d7ad7c598fa581d6c3c.jpg Z6067290897032_b7e7259d00c2f5978d7df2d2f5291778.jpg Z6005308826541_12443e8511cded7ef1871640f4ac1219.jpg Z6004171842078_9434c665b229556e27ee1772c88a063c.jpg NOI_QUY_THU_VIEN_THAN_THIEN.jpg Z5333306881754_a1561a05582913f3daea635b8127ce7b.jpg Z5333306883294_4b97b2891e0b5f95efbefc7e17eeac39.jpg Z5333306887652_437c5bace3ec71df1d035cbf253cfdd8.jpg Z5333306905338_98546da46d9a2597a4f12a6d0df589e8.jpg BANG_HUONG_DAN_GIAO_VIEN_HOC_SINH_DOC_MUON_TAI_LIEU_THU_VIEN.png Z5253442852629_1a4c549fb60469f32cf51fa3aaf69085.jpg Anh1.jpg Z5253442852007_0811db2ba172f3b64db214ca84a24dfe.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SGV-SÁCH HAY SƯU TẦM

    SÁCH NÓI - SƯU TẦM

    BẢN TIN

    CHÀO MỪNG the marquee trong HTML Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, chấm dứt khủng hoảng về đường lối cách mạng và mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    STN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Internet
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 05h:30' 13-12-2024
    Dung lượng: 8.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ nhất

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Huy Khôi

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Mai hắc Đế - Bố Cái Đại Vương / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên
    soạn ; họa sĩ Nguyễn Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
    94 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.9).
    1. Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), ?-722 . 2. Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa của Mai
    Hắc đế, 713-722 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử
    Việt Nam bằng tranh.
    1. Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), ?-722. 2. Vietnam — History — Mai Hắc Đế's Rebellion,
    713-722 — Pictorial works.
    959.7013092 — dc 22
    M217

    LỜI GIỚI THIỆU
    Dưới ách đô hộ bạo tàn của nhà Đường, sưu cao thuế nặng,
    vơ vét sản vật đem về Trung Hoa, nhiều cuộc khởi nghĩa lớn
    nhỏ đã nổ ra chống lại nhà Đường. Trong đó, phải kể đến cuộc
    khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và Phùng Hưng.
    Căm thù sự tàn bạo của bọn đô hộ, Mai Thúc Loan lãnh
    đạo nhân dân khởi nghĩa ở Hoan châu. Được nhân dân hưởng
    ứng, nghĩa quân ngày càng hùng mạnh, Mai Thúc Loan lên
    ngôi vua, sử gọi là Mai Hắc Đế.
    Sau thất bại của vua Mai, nước ta lại xuất hiện cuộc khở
    nghĩa đáng chú ý của Phùng Hưng. Từ quy mô ở Đường Lâm
    nhỏ hẹp, Phùng Hưng đã phát động cuộc khởi nghĩa có quy mô
    lớn chống lại bọ đô hộ bạo tàn, chiếm lĩnh thành trì và phủ Đô
    hộ, bắt tay vào việc coi sóc chính sự.
    Tuy cả hai cuộc khởi nghĩa đều thất bại, nhưng xu thế độc
    lập và tự chủ do nó đưa đến đã không còn có thể đảo ngược.
    Đây cũng chính là tiền đề cho họ Khúc dựng nền tự chủ ở nước
    ta sau này.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 9 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh “Mai Hắc Đế - Bố Cái Đại Vương”
    phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do
    Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 9 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh.

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Mai Thúc Loan lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hoan châu
    nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường
    Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713). Từ
    thời điểm đánh chiếm Hoan châu, lên ngôi vua, củng cố
    lực lượng, ông đã giải phóng toàn bộ đất nước và giữ
    vững nền độc lập trong 10 năm (713-722).
    Phùng Hưng phất cờ khởi nghĩa ở Đường Lâm, đuổi
    được bọn quan đô hộ, nắm quyền chính sự. Khi mất, ông
    được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương.

    4

    Đất nước ta đang bước vào thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Dù
    liên tục bị lệ thuộc phong kiến phương bắc nhưng nhờ sức lao
    động cần cù của dân chúng, xã hội nước ta lúc đó vẫn có những
    tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Nông dân đã
    trồng lúa hai mùa, cung cấp đủ gạo ăn cho dân chúng. Nghề trồng
    dâu nuôi tằm, dệt lụa cũng rất phát triển. Dân ta còn trồng cây
    ăn quả rất giỏi.
    7

    Về mặt văn hóa, cũng có nhiều đổi mới. Nhiều tư tưởng của
    Trung Hoa hoặc của nước khác được du nhập vào đất nước ta.
    Trước hết phải kể đến Nho giáo. Nho giáo là học thuyết do Khổng
    Tử lập ra. Khổng Tử vốn là người nước Lỗ bên Trung Hoa, sinh
    vào khoảng năm 550 trước Công nguyên. Ông từng đi chu du
    nhiều nơi, tìm hiểu cách sống của con người, rút kinh nghiệm
    và đúc kết nên lý thuyết của Nho giáo.
    8

    Ông đề cao 5 nguyên tắc sống: nhân (lòng thương người), lễ
    (giáo dục, khuôn phép), nghĩa (hợp lẽ phải), trí (trí tuệ), tín
    (biết trọng lời hứa, biết tin nhau). Ông chủ trương con người
    lấy việc sửa mình làm gốc, trong gia đình và xã hội phải có
    trật tự. Con phục tùng cha, vợ phục tùng chồng, dân phục tùng
    vua. Nho giáo làm cho xã hội có nề nếp nhưng lại hạ thấp giá
    trị của phụ nữ.

    9

    Nho giáo từ khi ra đời đã được nhiều người
    theo. Trải qua thời gian, lần lần Nho giáo được
    truyền vào đất Việt và được người Việt tiếp nhận
    nhưng không phổ biến lắm. Chữ Hán được đem
    dạy cho người Việt và nhân đó người Việt lại
    dựa vào nguyên tắc viết của chữ Hán để tạo ra
    một thứ chữ cho riêng mình. Thứ chữ này lần lần
    được cải tiến và trở thành thông dụng trong người
    Việt. Đó là chữ Nôm sau này.

    10

    Bên cạnh Nho giáo, Đạo giáo cũng được truyền vào đất Việt.
    Đạo giáo là do ông Lão Tử sáng lập. Ông Lão Tử tên là Lý Đạm,
    sinh vào năm 604 trước Công nguyên. Lão Tử khuyên con người
    nên sống vô vi, điềm tĩnh. Nhưng về sau, Đạo giáo bị nhiễm tệ
    mê tín dị đoan và tin vào thuật trường sinh bất tử. Khi truyền đến
    đất Việt, Đạo giáo cũng thiên về thần tiên, phù thủy nên không
    được nhiều người theo lắm.

    11

    Trong khi ấy, đạo Phật lại được hưng thịnh. Phù hợp với tâm
    trạng của người Việt trong cảnh mất nước, đạo Phật đã phát triển
    trên đất Việt. Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, con người bị ràng
    buộc trong kiếp luân hồi. Muốn thoát khỏi cảnh ấy, con người
    phải diệt dục, diệt lòng ham muốn để tiến tới Niết bàn. Rất nhiều
    người dân đến với giáo lý nhà Phật để quên đi phần nào nỗi khổ
    hàng ngày của họ.

    12

    Thật ra đạo Phật đã du nhập vào đất Việt từ thế kỷ thứ nhất theo
    chân các nhà buôn Ấn Độ. Bản thân những nhà buôn này là những
    người theo đạo Phật, trong thời gian ở tại đây, họ thắp hương cầu
    Phật và có một số người đi theo nhưng không đáng kể. Sau đó
    các tăng sĩ đến truyền giáo và trên đất Giao châu tín đồ Phật giáo
    ngày càng nhiều.

    13

    Đến năm 580 sau Công nguyên, phái Thiền đầu tiên của Việt
    Nam được Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) thành lập. Tỳ Ni Đa Lưu
    Chi vốn người gốc ở Nam Thiên Trúc (Ấn Độ). Ông đi hành đạo
    từ Thiên Trúc, đến Trung Hoa rồi xuôi đến Giao châu và trụ trì
    tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu) ở làng Cổ Châu (Long Biên). Tại
    đây ông thu nhận đệ tử, truyền giáo lý nhà Phật, chú trọng đến
    việc tu tâm cho có được tấm lòng chân thành.

    14

    Phật giáo càng ngày càng phát triển trên đất Việt. Nhiều chùa
    được xây lên và nhiều người trở thành tín đồ đạo Phật. Nhiều thiền
    sư truyền nối nhau dịch kinh sách và dạy đạo cho mọi người.
    Họ còn xem mạch, bốc thuốc chữa bệnh cho dân chúng. Giáo lý
    nhà Phật lại có nhiều điểm hợp với lối sống của người Việt nên
    dần dần đạo Phật chiếm địa vị cao nhất trong ba tôn giáo.
    15

    Năm 602, sau 60 năm tạm thời tự chủ, nước Vạn Xuân do Lý
    Nam Đế thành lập đã bị nhà Tùy phái hơn 10 vạn quân sang xâm
    lược. Quân Tùy thế mạnh như chẻ tre, ào ạt tiến vào đất Vạn Xuân
    và vây thành Cổ Loa rất ngặt. Vua nước Vạn Xuân lúc bấy giờ
    là Lý Phật Tử chống cự không được, phải đầu hàng. Vua bị giải
    về giam ở Trung Quốc. Và nước Vạn Xuân lại lâm vào cảnh lệ
    thuộc nhà Tùy.

    16

    Nhà Tùy làm chủ nước Trung Hoa không được bao lâu. Năm
    618, nhà Đường thay thế nhà Tùy thống trị Trung Hoa. Trong các
    triều đại, nhà Đường cai trị đất Việt lâu dài nhất và khắc nghiệt
    nhất. Để tăng cường đàn áp, nhà Đường tiến hành xây thành đắp
    lũy, mở mang đường sá. Dân chúng hàng năm phải đi phu, làm
    lao dịch cho chính quyền đô hộ từ 20 đến 50 ngày. Đấy là chưa
    kể các bọn quan tham, lợi dụng quyền lực bắt dân phu đóng tô, đi
    phu lao dịch quá hạn định.

    17

    Những sản vật quí giá của nước Vạn Xuân lại bị vơ vét đưa về
    Trung Hoa. Dân Vạn Xuân phải xuống biển mò ngọc trai, bắt đồi
    mồi, lên rừng kiếm ngà voi, sừng tê, trầm hương, đào vàng đãi bạc
    đem cống cho nhà Đường. Ngoài những sản vật thiên nhiên, nhà
    Đường còn rất thích tơ lụa và các loại quả ngon của xứ Vạn Xuân.
    18

    Ngoài việc áp đặt ra thuế khóa lao dịch, nhà Đường còn sửa
    lại chế độ hành chính của nước Vạn Xuân. Năm 679 sau Công
    nguyên, nhà Đường đặt ra An Nam Đô hộ phủ gồm có 12 châu
    59 huyện, trong đó có các châu quan trọng như châu Giao, châu
    Ái, châu Hoan, châu Diễn. Châu Giao nằm ở đồng bằng Bắc Bộ
    có trị sở là thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay), châu Ái ở đồng
    bằng sông Mã (Thanh Hóa) còn châu Diễn và châu Hoan thì
    nằm ở đồng bằng sông Cả (Nghệ An).
    19

    An Nam Đô hộ phủ bị đặt dưới sự cai trị của quan An Nam Đô
    hộ. Thời bấy giờ có quan Đô hộ là Lưu Diên Hựu rất tham lam,
    tăng phần tô thuế của dân chúng lên để tha hồ vơ vét. Trước sự áp
    bức, bất công, dân Việt liên tiếp nổi dậy. Trong các cuộc nổi dậy,
    có cuộc khởi nghĩa của người dân tộc thiểu số, cầm đầu là Lý
    Tự Tiên. Lưu Diên Hựu đem quân đàn áp và giết được Lý Tự Tiên.

    20

    Một người anh hùng khác là Đinh Kiến, nối nghiệp Lý Tự Tiên,
    tập họp dân chúng tấn công vây thành Tống Bình (Hà Nội ngày
    nay), và chẳng bao lâu thì phá vỡ được thành, giết được Lưu Diên
    Hựu. Nhà Đường liền phái đại quân sang. Trước sức mạnh như
    vũ bão của quân Đường, Đinh Kiến bị thua và bị giết.
    21

    Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng lòng người Việt không
    khi nào nguôi ý chí quật cường. Lúc ấy, ở châu Hoan có Mai
    Thúc Loan là người nghĩa khí. Tương truyền Mai Thúc Loan
    quê ở Mai Phụ (Hà Tĩnh ngày nay). Vì nhà nghèo, chàng lưu
    lạc đến sống ở vùng Ngọc Trừng (Nghệ An). Anh không nề hà
    công việc nặng nhọc nào mà lại luôn luôn vui vẻ và hay giúp đỡ
    mọi người. Anh có dáng người to lớn, nước da đen, có sức khỏe
    và rất giỏi đấu vật.

    22

    Để trốn cảnh khắc nghiệt do quan quân nhà Đường gây ra, dân
    chúng nhiều người trốn vào rừng rậm, sống cùng muông thú chứ
    không chịu cảnh nô lệ. Số người khác uất ức, nổi lên cướp phá
    sống không cần ngày mai. Thông cảm được tâm tình của dân Việt,
    Mai Thúc Loan đứng lên, kêu gọi mọi người trở về, hàng phục
    được các toán cướp, qui tụ được dân chúng của 32 châu.
    23

    Căm phẫn với sự đô hộ vô cùng khắc nghiệt của nhà Đường,
    khởi nghĩa Hoan châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo đã nổ ra vào năm
    713 tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Được lời hiệu triệu
    của ông, nơi nơi như mở tấm lòng. Hào kiệt nô nức hưởng ứng, kéo
    về tụ tập dưới cờ nghĩa sẵn sàng vì nước quên mình.

    24

    Mai Thúc Loan chọn vùng Sa Nam (Nghệ An), một vùng
    hiểm trở với sông Lam sâu rộng và núi Đụn (Hùng Sơn) cheo leo
    làm căn cứ địa. Tại đây ông cho xây thành Vạn An để đặt đại
    bản doanh. Vạn An là một đồn lũy chạy dài cả ngàn mét, lưng dựa
    vào núi Đụn, trước mặt là sông Lam, bên cạnh là thung lũng rộng
    rãi để trữ lương thực, vũ khí. Quả là một nơi phòng thủ chắc chắn.

    25

    26

    Thấy thế lực đã mạnh, Mai Thúc Loan bèn
    xưng đế, lấy thành Vạn An làm kinh đô. Vì nước
    da đen đặc biệt của ông, dân chúng thường gọi ông
    là Mai Hắc Đế (vua Đen họ Mai). Thanh thế của
    Mai Hắc Đế ngày càng lừng lẫy. Ông làm chủ cả
    vùng đất Hoan, Diễn, Ái. Ông còn liên kết được
    với các nước láng giềng là Chiêm Thành, Chân
    Lạp và cả Malaysia để hình thành một mặt trận
    liên hoàn chống nhà Đường.

    27

    Sau khi quân đông lên đến hàng chục vạn người, Mai Hắc Đế
    liền cho quân tiến ra đồng bằng Bắc bộ, vây đánh thành Tống
    Bình. Quan Đô hộ là Quang Sở Khách chống không lại, phải chạy
    trốn. Mai Hắc Đế làm chủ được thành Tống Bình, giành lại độc
    lập dân tộc. Từ đó, Mai Hắc Đế lo xây dựng đất nước và không
    quên việc phòng thủ.

    28

    Bấy giờ nhà Đường
    đang ở thời cực thịnh dưới
    triều của Đường Huyền Tông,
    kinh tế, quân sự vô cùng phát triển. Thấy Quang Sở Khách thua
    trận, Đường Huyền Tông vô cùng tức giận, sai tướng thân tín là
    Dương Tu Húc đem 10 vạn quân thiện chiến, theo lộ trình xưa
    của Mã Viện, chớp nhoáng tiến vào đất Việt. Trong khi quân của
    Mai Hắc Đế còn chưa kịp chuẩn bị thì quân Đường bất thình lình
    tấn công vào bản doanh của quân khởi nghĩa và thẳng tay tàn sát.
    29

    Mai Hắc Đế phải rút vào rừng cố
    thủ, nhưng ma thiêng nước độc đã quật
    ngã ông. Ông bệnh chết trong rừng.
    Trong khi đó, để trấn áp mầm mống
    phục hồi của quân khởi nghĩa, nhà
    Đường ra sức khủng bố. Dân Việt bị
    giết chết vô số, thây không kịp chôn,
    chất cao thành gò. Một tội ác mà
    cho đến nay sử sách còn ghi.

    30

    Nhà Đường lập lại chế độ đô hộ nhưng không còn dám bắt dân
    Việt đem cống vải nữa. Lệ cống vải từ đó mất hẳn. Để đánh dấu
    thoát nạn cống quả vải nhờ công lao của Mai Hắc Đế, dân chúng
    truyền tụng câu thơ:
    Cống vải từ nay Đường phải dứt,
    Dân nước đời đời hưởng phước chung.

    31

    32

    Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế tuy bị tan rã, nhưng dân chúng
    vẫn luôn nhớ đến ông. Một ngôi đền thờ người anh hùng họ Mai
    được lập ở núi Vệ, quanh năm nghi ngút hương khói. Trong dân
    gian có bài thơ tưởng nhớ uy đức của Mai Hắc Đế:
    Hùng cứ châu Hoan đất một vùng,
    Vạn An thành lũy khói hương xông.
    Bốn phương Mai đế lừng uy đức,
    Trăm trận Lý Đường phục võ công.
    33

    34

    Gần núi Tản Viên, có một xã tên là Đường Lâm, ngày nay thuộc
    thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Đây là một vùng đất cổ kính, đã từng là
    căn cứ của bà Man Thiện, mẹ của Hai Bà Trưng. Tại căn cứ này, bà
    Man Thiện đã thao luyện quân sĩ, và từ đó xuất quân để phối hợp
    với quân của Hai Bà, đánh đuổi được viên Thái thú tham ô Tô Định
    vào năm 40 sau Công nguyên.

    37

    Đường Lâm còn là nơi sản sinh nhiều anh hùng dân tộc, đó là
    nơi chôn nhau cắt rốn của hai vị tướng của Hai Bà Trưng là
    Chiêu Trưng và Đỗ Lý và cũng là quê hương của hai vị anh hùng
    của dân tộc Việt Nam là Bố Cái Đại vương và Ngô Quyền. Vùng
    đất này càng thêm vẻ cổ kính với các kiến trúc bằng đá ong. Đâu
    đâu cũng thấy đá ong, từ cái giếng cho đến cổng làng, cột đình,
    ngôi mộ, nhà thờ họ...

    38

    Chùa Sùng Nghiêm (chùa Mía) tọa lạc ở xã Đường Lâm, Huyện Ba Vì, Hà Tây
    Ảnh: Lấy từ sách “NHững ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam”, Võ Văn Tường

    Trong không gian tràn ngập màu sắc đá ong ấy lại chứa chất
    nhiều di tích lịch sử và văn hóa, đem lại cho Đường Lâm một dáng
    vẻ đặc sắc mà không nơi nào có được. Chẳng hạn như chùa Mèn
    thờ bà Man Thiện; miếu thờ bà Lê Thị Lan, nữ tướng của Hai Bà
    Trưng; đình Mông Phụ... Ở thôn Đông Sàng còn có chùa Mía do
    bà Lê Thị Rong, con gái làng Mía (tên của Đường Lâm thời ấy)
    và là vợ của chúa Trịnh Tráng tạo dựng.
    39

    Đường Lâm còn có Quán Sứ, là một ngôi nhà cổ dùng làm nơi
    quàn thi hài những người anh hùng, liệt sĩ. Quán Sứ liên quan đến
    một nhân vật là Thám hoa Giang Văn Minh, người làng Đường
    Lâm. Ông là một người tiết tháo, khi đi sứ sang nhà Minh, để xin
    cầu phong cho vua Lê (1637), bị vua Minh làm nhục, đã khẳng
    khái đối đáp khiến vua Minh tức giận, sai mổ bụng giết chết.
    40

    Thi hài ông được đưa về nước và khi rước về qua làng Đường
    Lâm thì dân làng ra đón xác và xin vua Lê cho được chôn sứ thần
    tại quê nhà. Vua truy phong cho Thám hoa tước “Công bộ Thị
    lang Minh Quận công” và chuẩn y thỉnh nguyện của dân làng.
    Thi hài của Thám hoa được quàn tại ngôi nhà Quán Sứ này trước
    khi được đem đi chôn cất. Từ đấy nhà Quán Sứ trở thành nơi quàn
    các chiến sĩ bỏ mình vì nước.

    41

    Đường Lâm còn có đền thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng,
    còn có lăng Ngô Quyền... Nơi thờ hai vị anh hùng dân tộc này
    nằm không cách xa nhau bao nhiêu, chỉ khoảng 300m, trên vùng
    đồi nghiêng nghiêng. Đền và lăng đều giữ được vẻ kiến trúc
    cổ xưa. Hàng năm vẫn có lễ hội tưởng nhớ đến những chiến tích
    một thời hào hùng của hai người con xã Đường Lâm.
    42

    Lăng Ngô Quyền tại Đường Lâm

    Phong cảnh Đường Lâm Ảnh: Đức Hòa

    43

    Đường Lâm còn là một vùng trồng mía, làm đường nổi tiếng. Vì
    thế có những tên gọi liên quan đến các hoạt động này như: Đường
    Lâm, chùa Mía, phố Mía... Đó là hình ảnh của mía, của mật, của
    đường qua các câu ví von như sau:
    “Lên phố Mía,
    Gặp cô hàng mật,
    Nắm lấy tay, hỏi đường”.
    44

    Ở thôn Cam Lâm, một trong bảy
    thôn của xã Đường Lâm, vào khoảng
    nửa đầu thế kỷ thứ 8, có gia đình họ
    Phùng, thuộc dòng dõi Quan lang,
    giàu có và có uy tín lớn. Theo truyền
    thuyết, bà Phùng sinh ra ba người
    con trai đĩnh ngộ, thông minh. Đó là
    Phùng Hưng, Phùng Hải và Phùng
    Dĩnh. Khi lớn lên, người anh cả là
    Phùng Hưng được nối nghiệp cha,
    làm hào trưởng Đường Lâm.

    45

    46

    Cả ba anh em đều có sức khỏe hơn người.
    Phùng Hưng người cao lớn, mặt mũi khôi ngô,
    tính tình hòa nhã, có sức mạnh bẻ gãy sừng
    trâu, tay không bắt hổ. Phùng Hải vác được
    đá nặng ngàn cân, hoặc vác thuyền nhỏ chở
    ngàn hộc lúa mà có thể đi xa hơn 10 dặm.
    Phùng Dĩnh cũng không kém gì hai anh, một
    mình vật ngã được cả mười chàng thanh niên
    cường tráng.
    47

    Ba anh em rất siêng năng tập luyện võ nghệ. Mỗi ngày, gà vừa
    gáy sáng là ba anh em đã thức dậy, kẻ cung, người côn, kiếm cùng
    nhau quần thảo. Họ cũng không quên dùi mài kinh sử.
    Sách sử, sách binh thư được họ nghiền ngẫm và cùng
    nhau thảo luận để hiểu được hết ý nghĩa của người
    xưa. Ngoài ra, họ còn hay đi chu du để
    tìm hiểu đất nước và dân tình.

    48
     
    Gửi ý kiến

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10