BẢN TIN
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
STN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:30' 13-12-2024
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:30' 13-12-2024
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ ba
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Anh Tuấn
Đồ họa vi tính: Đặng Kim Ngân
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Họ Khúc dựng nền tự chủ/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn;
họa sĩ Nguyễn Trung Tín. Tái bản lần thứ 3 TP. Hồ Chí Minh: trẻ, 2012
94tr.; 21cm. (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.10).
1. Việt Nam Lịch sử Đến 939. I. Trần Bạch Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts:
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam History To 939.
959.7013 – dc22
H678
LỜI GIỚI THIỆU
Từ năm 179 trước Công nguyên, sau thất bại của An Dương
vương trong cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lăng, lịch sử
nước ta bắt đầu bước vào giai đoạn đau thương lâu dài nhất – thời
Bắc thuộc. Và, cũng kể từ năm 179 trước Công nguyên trở đi, bất
chấp mọi hy sinh, gian khổ, không ít các bậc anh hùng hào kiệt
quả cảm đã phát động và lãnh đạo nhân dân ta vùng lên, lập nên
những kỳ tích, làm rạng rỡ truyền thống ngoan cường của tổ tiên.
Tuy nhiên tất cả những thắng lợi của các bậc anh hùng hào kiệt
như Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh, Lý Bí, Phùng Hưng, vẫn chưa
đủ sức lật nhào vĩnh viễn toàn bộ ách thống trị của phong kiến
phương Bắc và giành lại độc lập chủ quyền cho dân tộc.
Từ khoảng giữa thế kỷ thứ IX trở đi, bởi nhiều nguyên nhân
khác nhau, triều đình nhà Đường ngày một suy yếu, khả năng sụp
đổ ngày một rõ dần. Thời cơ cũng đã đến, Khúc Thừa Dụ đã xuất
hiện đúng lúc, nắm lấy cơ hội, đặt nền tảng cơ sở cho nền độc lập
Việt sau 1000 năm Bắc thuộc.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 10 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Họ Khúc dựng nền tự chủ” phần lời do
Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Trung
Tín thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 10 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
“Họ Khúc ở Hồng châu (nay thuộc huyện Ninh Giang,
tỉnh Hải Dương) là một đại cự tộc, đời đời nối nhau làm
hào trưởng. Khởi dựng cơ nghiệp lớn là Khúc Thừa Dụ,
người rất nhân ái và khoan hòa, ai ai cũng mến mộ mà
theo về.”
(Trích Việt sử tiêu án, Ngô Thì Sỹ)
4
Sau khi làm vua được 7 năm, Phùng
Hưng mất. Nội bộ họ Phùng có sự chia
rẽ. Phùng An lên nối ngôi cha nhưng
không thu phục được lòng người. Khi
nhà Đường trở lại xâm lấn, Phùng An
đã đem thuộc hạ ra quy hàng. Vì vậy
đến năm 791, Giao Châu lại lệ thuộc
nhà Đường.
5
Đây là triều đại đô hộ cuối cùng của phong kiến Trung Quốc
đối với nước ta và một số quốc gia khác. Trong các triều đại thành
lập bộ máy An Nam Đô hộ phủ (đối với Việt Nam), An Đông Đô
hộ phủ (đối với Triều Tiên) thì nhà Đường cai trị lâu dài nhất,
khắc nghiệt nhất. Bởi vậy, sau Phùng Hưng, ở Giao Châu có nhiều
cuộc nổi dậy, lớn nhất là cuộc nổi dậy do Dương Thanh cầm đầu
(819). Nhưng tất cả đều thất bại và bị đàn áp dã man.
6
Lúc này nhà Đường đã trải qua giai đoạn thiết lập – khẳng
định (618-713) và cường thịnh (713-823) mà sử gọi là Sơ điệp và
Trung điệp nhà Đường để bước vào giai đoạn suy vong (823-907)
tức là thời kỳ Mạt điệp.
Nội bộ triều đình nhà Đường ở Trung Quốc hết sức lục đục,
rối ren.
7
Các vua nhà Đường trong thời Mạt điệp chỉ tin dùng hoạn
quan, văn thần võ tướng nhiều công lao đều lần lượt bị đối xử
một cách lạnh nhạt. Các vua nhà Đường như Đường Hiến Tông,
Đường Mục Tông, Đường Kính Tông, Đường Văn Tông... đều
do hoạn quan định đoạt với nhau.
8
Bởi hầu hết các vua thời Mạt điệp đều do bọn hoạn quan lập
nên, vì thế bị hoạn quan bức hiếp. Vua Đường đã có lúc phải thốt
lên rằng: “Trẫm lâu nay chẳng thể bằng Noãn vương của nhà
Chu hay Hiến đế của nhà Hán, bởi vì các vua ấy chỉ bị cường
thần hiếp bức, còn trẫm thì bị chính gia nô của mình hiếp bức”.
Bấy giờ, có tên hoạn quan dám coi vua Đường chỉ như là một...
học trò của mình mà thôi!
9
Trong lúc chính sự rối ren thì nhiều phong trào đấu tranh của
nhân dân Trung Quốc rầm rộ nổi lên, quyết liệt hơn cả là cuộc
khởi nghĩa của Hoàng Sào. Hoàng Sào đã đuổi vua Đường ra khỏi
kinh đô rồi tự lập làm Hoàng đế, đổi quốc hiệu là Đại Tề.
10
Hốt hoảng trước sức tấn công của đội quân Hoàng Sào, vua
Đường Hy Tông bèn cho gọi Lý Khắc Dụng, lúc ấy đang là tù
trưởng của người Sa Đà (cư ngụ ở vùng phía bắc Trung Quốc),
kiêm giữ chức Tiết độ sứ Đại Đồng, đem quân về cứu nguy. Lý
Khắc Dụng đánh lui được quân của Hoàng Sào, nhưng cũng kể
từ đó, hắn trở thành kẻ lộng hành. Vua Đường tiếp tục bị bức
hiếp như cũ.
11
Đường Chiêu Tông bàn mưu
cùng quan Tể tướng Thôi Dân triệu
Chu Toàn Trung đem quân về trị
hoạn quan. Chu Toàn Trung vốn là
tướng của Hoàng Sào nhưng phản
bội về với triều đình và quay lại
đánh giết những người theo Hoàng
Sào không chút nương tay nên được
phong là Tiết độ sứ. Chu Toàn Trung
mau chóng đánh bại Lý Khắc Dụng.
12
Sau đó, Chu Toàn Trung dẫn đại quân về kinh đô. Tất cả bọn
hoạn quan từng làm cho triều đình bao phen nghiêng ngửa đều
bị giết chết. Nhưng Chu Toàn Trung lại ỷ thế đó để lộng quyền
nên Đường Chiêu Tông phải phong cho hắn tước Lương vương.
13
Oai danh của Chu Toàn Trung ngày một lừng lẫy khiến cho cả
triều đình đều phải khiếp sợ. Bá quan chưa kịp đối phó thì Chu
Toàn Trung đã giết chết Đường Chiêu Tông và đưa Lý Chúc lên
ngôi. Còn hắn tự phong cho mình chức Tể tướng.
14
Ngay khi vừa tự phong
cho mình chức Tể tướng, để
tạo thêm vây cánh, Chu Toàn
Trung đã ép vua Đường phải
phong cho anh ruột của hắn là
Chu Toàn Dục chức Tĩnh Hải
Tiết độ sứ, tức là chức quan đô
hộ cao nhất của Trung Quốc ở
nước ta, thay cho kẻ đang giữ
chức này là Tăng Cổn.
15
Chu Toàn Dục là một kẻ bất tài. Bấy giờ có người gọi hắn là
“một dạng bò rừng có hai chân”. Nhưng hắn lại rất tham lam và
tàn bạo. Làm Tiết độ sứ, hắn đã vơ vét thẳng tay khiến dân ta vô
cùng điêu đứng.
16
Hễ bất cứ ai trái ý mình, Chu Toàn Dục cũng bắt tống giam
hoặc chém giết. Bởi lẽ này, hắn được tặng thêm cho biệt hiệu mới
là Ngục Thượng thư (vị quan có chức tương đương với Thượng
thư, luôn sẵn sàng bắt người tống giam vào ngục). Chỉ một thời
gian ngắn sau đó, chính Chu Toàn Trung đã phải xin vua nhà
Đường... bãi chức anh mình!
17
Sau khi Chu Toàn Dục bị triệu hồi về kinh đô và bị bãi chức,
Độc Cô Tổn được đưa sang làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ. Độc Cô Tổn
từng được giữ chức Tể Tướng của nhà Đường nhưng đã bị cách
chức và sau đó bị đẩy sang nước ta. Với Độc Cô Tổn, đây thực
chất là một chuyến bị đi đày viễn xứ.
18
Sau đó Độc Cô Tổn bị đày sang đảo Hải Nam cũng là khi Chu
Toàn Trung đang ráo riết chuẩn bị kế hoạch cướp ngôi của nhà
Đường. Vì lẽ đó, hắn không sai ai sang đứng đầu bộ máy đô hộ
ở nước ta thay cho Độc Cô Tổn nữa. Một khoảng trống hết sức
có lợi cho phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta đã
xuất hiện. Nói khác hơn, cơ hội ngàn vàng đã đến.
19
Vấn đề còn lại là ai có khả năng phát hiện,
và quan trọng hơn, có khả năng triệt để tận dụng
được cơ hội ngàn vàng này. Lúc này, một sự
nhạy bén và thông minh có thể đem lại những
thắng lợi to lớn mà tất cả những cuộc khởi nghĩa
trước đó không sao giành được.
20
21
Bấy giờ, người có công đầu trong việc phát hiện và triệt để tận
dụng được cơ hội ngàn vàng là Khúc Thừa Dụ. Ông là người đặt
nền móng căn bản đầu tiên cho kỷ nguyên độc lập và tự chủ của
nước nhà. Khúc Thừa Dụ chính thức xuất hiện trên vũ đài chính
trị của đất nước kể từ năm 905, tức là đúng hai năm trước khi nhà
Đường bị diệt vong.
22
Khúc Thừa Dụ người Hồng châu, nay thuộc huyện Ninh Giang,
tỉnh Hải Dương. Hiện tại vẫn chưa rõ ông sinh vào ngày tháng
năm vào. Tuy nhiên, căn cứ vào những ghi chép rất tản mạn của
các bộ sử cũ, bước đầu, cũng có thể tạm ước đoán rằng, Khúc
Thừa Dụ chào đời vào khoảng đầu những năm sáu mươi của thế
kỷ thứ IX, tức là khi mất (năm 907), ông hưởng thọ chừng hơn
bốn mươi tuổi.
23
Theo Ngô Thì Sĩ (tác giả của Việt
sử tiêu án) thì bấy giờ ở đất Hồng
châu, họ Khúc là một đại cự tộc,
có ảnh hưởng xã hội rất to lớn. Bản
thân Khúc Thừa Dụ còn là một Hào
trưởng, được nhân dân địa phương tin
phục. Gia đình Khúc Thừa Dụ giàu
có, “đất ruộng rộng mênh mông, tôi
tớ nhiều vô kể”.
24
Các bộ chính sử không hề ghi chép gì về tuổi ấu thơ và thời
trai trẻ của Khúc Thừa Dụ, nhưng bộ dã sử mang tên là Bán đại
văn (nửa đời nghe) của một nhà Nho chưa rõ họ tên, hiệu là Ớ
Vận Tiên sinh, có chép hai mẩu chuyện khá lý thú về quãng đời
này của Khúc Thừa Dụ.
25
Chuyện thứ nhất kể rằng, thời ấy, dân Hồng châu đã có tục chọi
trâu. Hàng năm, tục lệ này được tổ chức rất đều đặn và năm nào
cũng có đông đảo người nô nức đến xem. Có trâu thắng cuộc là
một vinh dự lớn lao, vì thế, làng nào cũng lo chăm chút cho trâu
chọi của làng mình. Lắm lúc, họ phải đi lùng mua cho bằng được
giống trâu chọi ở những miền rất xa.
26
Làng của Khúc Thừa Dụ tuy đã nhiều lần cất công đi tìm mua
được những con trâu chọi trông rất cường tráng, nhưng, chưa
lần nào trâu của làng ông giật nổi giải nhất. Dân làng lấy đó làm
điều sỉ nhục. Họ quyết gom thật nhiều tiền, thuê cho bằng được
những người buôn trâu tài ba đi mua giúp, nhưng kết quả cũng
chẳng khá hơn.
27
Thấy mọi người có vẻ buồn phiền vì luôn năm bị thua cuộc,
Khúc Thừa Dụ lúc đó mới lên mười, bước tới thưa với cha và các
bậc chức sắc trong làng rằng: “Con nghĩ là cứ để cho dân các làng
khác hí hửng với những con trâu nhiều phen đoạt giải của họ. Năm
nay, nhất định trâu làng ta sẽ thắng. Nhất định là như thế mà!”.
28
“Cả làng đang lo, không biết
tìm đâu ra trâu tốt, cháu biết gì
mà chen vào?”. Một người lớn
tuổi nói với Khúc Thừa Dụ như
vậy. Nhưng Khúc Thừa Dụ vẫn
bình tĩnh nói: “Theo con thì
chẳng cần tốn công tốn của đi
mua trâu tốt làm gì nữa. Mấy
con trâu chọi mua về từ năm
ngoái đã quá đủ để thắng cuộc
rồi. Con xin vì làng mà mạnh
dạn hiến kế”.
29
Cha của Khúc Thừa Dụ ôn tồn bảo: “Trâu chọi cũ mà thắng
thì đã thắng từ năm cũ rồi, có đâu lại đợi đến năm nay”. Khúc
Thừa Dụ không chút nao núng, nói tiếp rằng: “Thưa cha, trâu
cũ mà biết chọi theo cách mới thì nhất định sẽ thắng. Xin cha và
dân làng cố giữ bí mật đến cùng thì con mới dám nói cách chọi
trâu mới, khiến làng ta nhất định sẽ giật giải”. Mọi người đồng ý.
30
Khúc Thừa Dụ thưa: “Năm nào mỗi làng cũng đem ra ba con
trâu, gồm nhất đẳng, nhị đẳng và tam đẳng. Trâu ở đẳng hạng
nào thì chọi với trâu ở đẳng của làng bên thì trâu làng ta thua.
Tương tự như vậy, nếu lấy trâu nhị đẳng của làng ta chọi với trâu
nhị đẳng của làng bên thì trâu làng ta cũng thua...”.
31
32
... “Và nếu lấy trâu tam đẳng của làng ta chọi với trâu tam
đẳng của làng bên, thì trâu của làng ta cũng thua nốt. Nhưng trâu
nhất đẳng của làng ta lại thắng được trâu nhị đẳng của làng bên,
và trâu nhị đẳng của làng ta lại cũng thắng được trâu tam đẳng
của làng bên. Cho nên, con xin được bí mật đổi ngược lại...”
33
“Nay, ta hãy lấy trâu tam đẳng của
ta mà chọi với trâu nhất đẳng của làng
bên. Dĩ nhiên là trâu làng ta thua và
do đó, dân làng bên sẽ rất hí hửng, chủ
quan. Sau đó, ta lấy trâu nhất đẳng
của làng mình chọi với trâu nhị đẳng
của làng bên, lấy trâu nhị đẳng của
làng mình mà chọi với trâu tam đẳng
của làng bên. Hai trận sau ta thắng,
tức là rốt cuộc, ta đã thắng.”
34
Bấy giờ, ai cũng cho ý kiến của cậu bé Khúc Thừa Dụ là diệu
kế. Và quả y như rằng, năm ấy, trâu của làng Khúc Thừa Dụ giật
giải. Cả làng không ai là không vui. Sau chuyện này, ai cũng cho
rằng mai sau, Khúc Thừa Dụ sẽ là đấng kỳ tài trong thiên hạ, có
thể nhìn thấy trước các việc khi chưa xảy ra, trăm họ sẽ được nhờ
ơn không phải là ít.
35
Chuyện thứ hai kể rằng, bấy giờ, Khúc Thừa Dụ đã là một
thanh niên cường tráng, và được nối nghiệp làm Hào trưởng. Ông
thường tìm cách chiêu nạp hào kiệt và tráng sĩ bốn phương, tất
cả đều mượn danh nghĩa là gia khách của Khúc Thừa Dụ để che
mắt bọn đô hộ, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.
36
Giặc đánh hơi được tin
này, bèn bất ngờ sai một
nhóm quân sĩ, mượn tiếng
viếng thăm nhà Hào trưởng
họ Khúc để kiểm nghiệm
thực hư. Khúc Thừa Dụ
nắm trước được ý đồ đó. Có
người khuyên ông nên tung
quân đánh phủ đầu, diệt cho
sạch bọn cả gan lần mò tới
nơi nghĩa sĩ đang luyện tập,
rồi nhân đó, quét sạch quân
giặc ra khỏi cõi bờ, nhưng
ông chỉ mỉm cười.
37
Thế rồi ông gọi những người thân tín lại mà nói: Nay, giặc tuy
yếu nhưng sức ta cũng chưa mạnh, đánh thắng một trận nhỏ chẳng
đủ bù cho thất bại to sau này, vì thế, ta nên làm thế này, thế này...
Mọi người nghe ông nói xong, đều thích chí cười ha hả. Bản thân
Khúc Thừa Dụ cũng cười rung cả người lên.
38
Kế hiểm của Khúc Thừa Dụ, về sau, dân làng ông ai ai cũng
biết: Thì ra, ông đã sai lấy những trái ớt thật cay, giã thật nhỏ, trộn
chung với muối, bỏ vào một cái túi vải, và... đem túi vải có muối
ớt ấy lồng vào hạ bộ trâu rồi cột chặt lại. Ông sai dắt hai con trâu
chọi ra đầu đoạn đường hẹp chờ sẵn.
39
Đúng lúc lính giặc bắt đầu lố nhố ở giữa đoạn đường hẹp, ông
hạ lệnh lấy nước sôi dội vào túi muối ớt. Trâu hoảng hốt rồi lồng
lên, chạy thục mạng. Muối ớt càng thấm, trâu càng trở nên hung
dữ, gặp bất cứ ai cũng húc. Giặc chưa hết hoàn hồn bởi con trâu
đầu tiên thì đã bị con thứ hai lao tới. Giữa đường hẹp, chúng chỉ
còn biết kêu trời mà thôi.
40
41
Bởi quá bất ngờ, cả toán đều bị thương tích nặng,
có tên chết ngay tại chỗ. Khi cả hai con trâu đã chạy
xa rồi, Khúc Thừa Dụ mới cho người ra khiêng đám
lính bị thương về dinh quan đô hộ, lại còn vờ tỏ sự
xót thương.
42
Khi ở Trung Quốc, việc Chu Toàn Trung giết vua Đường khiến
cho xã hội Trung Quốc đương thời phải náo loạn, thì ở đất Hồng
châu, Khúc Thừa Dụ cũng ngày đêm ráo riết chiêu mộ nghĩa binh
để chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa. Nhờ tài cao đức dày, Khúc Thừa
Dụ được khắp nơi mến mộ, theo về ngày một đông.
43
Chuyện thí nghịch của Chu Toàn Trung cũng trực tiếp gây nên
những ảnh hưởng không nhỏ đối với bọn quan lại đô hộ ở nước
ta. Cũng năm này, Độc Cô Tổn vừa sang nhận chức Tĩnh Hải Tiết
độ sứ được hai tháng đã bị đày đi đảo Hải Nam và chết ở đó. Độc
Cô Tổn chính là viên quan đô hộ cuối cùng của phong kiến Trung
Quốc đối với nước ta thời Bắc thuộc.
44
Khi Độc Cô Tổn đi rồi, chức đô hộ ở nước ta bỏ
trống. Bấy giờ, Chu Toàn Trung cũng đang nóng
lòng tìm cách cướp ngôi của nhà Đường, do vậy hắn
không thể nào can thiệp sâu hơn vào tình hình của
nước ta. Nguồn tin quan trọng này đã nhanh chóng
truyền đến Khúc Thừa Dụ và các nghĩa sĩ của ông.
45
Nhiều người khuyên Khúc Thừa Dụ nên thừa cơ mà dấy nghĩa,
đem quân đánh một trận sống mái với bọn đô hộ, nhưng Khúc
Thừa Dụ lại nói: “Không có binh hùng và tướng mạnh thì không
thể làm nên việc lớn, song lúc này chưa phải là lúc ra tay chém
giết cho hả giận. Trả được tư thù mà không rửa được nhục cho
nước, phỏng có ích gì?”.
46
Nói rồi, Khúc Thừa Dụ sai người đi khắp bốn phương gấp rút
chiêu mộ thêm lực lượng và tích trữ lương thực, đồng thời, theo
dõi chặt chẽ mọi diễn biến trong thành Tống Bình. Thành này, nay
thuộc Hà Nội, vào thời Bắc thuộc, đó là thủ phủ của bọn quan lại
đô hộ. Những tên Tĩnh Hải Tiết độ sứ trước đó như Tăng Cổn,
Chu Toàn Trung, Độc Cô Tổn... đều đặt trụ sở tại đấy.
47
Năm 905, tuy công việc chuẩn bị của Khúc Thừa Dụ chưa thật
sự đầy đủ, nhưng thời cơ giành chính quyền thì đã quá chín mùi,
bởi vậy, ông liền quyết định đem toàn bộ lực lượng của mình tiến
vào thành Tống Bình. Bấy giờ, tất cả chính quyền đô hộ của nhà
Đường ở nước ta đã hoàn toàn rệu rã, khả năng đem quân đi cứu
nguy của triều đình nhà Đường cũng không còn.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Anh Tuấn
Đồ họa vi tính: Đặng Kim Ngân
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Họ Khúc dựng nền tự chủ/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn;
họa sĩ Nguyễn Trung Tín. Tái bản lần thứ 3 TP. Hồ Chí Minh: trẻ, 2012
94tr.; 21cm. (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.10).
1. Việt Nam Lịch sử Đến 939. I. Trần Bạch Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts:
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam History To 939.
959.7013 – dc22
H678
LỜI GIỚI THIỆU
Từ năm 179 trước Công nguyên, sau thất bại của An Dương
vương trong cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lăng, lịch sử
nước ta bắt đầu bước vào giai đoạn đau thương lâu dài nhất – thời
Bắc thuộc. Và, cũng kể từ năm 179 trước Công nguyên trở đi, bất
chấp mọi hy sinh, gian khổ, không ít các bậc anh hùng hào kiệt
quả cảm đã phát động và lãnh đạo nhân dân ta vùng lên, lập nên
những kỳ tích, làm rạng rỡ truyền thống ngoan cường của tổ tiên.
Tuy nhiên tất cả những thắng lợi của các bậc anh hùng hào kiệt
như Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh, Lý Bí, Phùng Hưng, vẫn chưa
đủ sức lật nhào vĩnh viễn toàn bộ ách thống trị của phong kiến
phương Bắc và giành lại độc lập chủ quyền cho dân tộc.
Từ khoảng giữa thế kỷ thứ IX trở đi, bởi nhiều nguyên nhân
khác nhau, triều đình nhà Đường ngày một suy yếu, khả năng sụp
đổ ngày một rõ dần. Thời cơ cũng đã đến, Khúc Thừa Dụ đã xuất
hiện đúng lúc, nắm lấy cơ hội, đặt nền tảng cơ sở cho nền độc lập
Việt sau 1000 năm Bắc thuộc.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 10 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Họ Khúc dựng nền tự chủ” phần lời do
Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Trung
Tín thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 10 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
“Họ Khúc ở Hồng châu (nay thuộc huyện Ninh Giang,
tỉnh Hải Dương) là một đại cự tộc, đời đời nối nhau làm
hào trưởng. Khởi dựng cơ nghiệp lớn là Khúc Thừa Dụ,
người rất nhân ái và khoan hòa, ai ai cũng mến mộ mà
theo về.”
(Trích Việt sử tiêu án, Ngô Thì Sỹ)
4
Sau khi làm vua được 7 năm, Phùng
Hưng mất. Nội bộ họ Phùng có sự chia
rẽ. Phùng An lên nối ngôi cha nhưng
không thu phục được lòng người. Khi
nhà Đường trở lại xâm lấn, Phùng An
đã đem thuộc hạ ra quy hàng. Vì vậy
đến năm 791, Giao Châu lại lệ thuộc
nhà Đường.
5
Đây là triều đại đô hộ cuối cùng của phong kiến Trung Quốc
đối với nước ta và một số quốc gia khác. Trong các triều đại thành
lập bộ máy An Nam Đô hộ phủ (đối với Việt Nam), An Đông Đô
hộ phủ (đối với Triều Tiên) thì nhà Đường cai trị lâu dài nhất,
khắc nghiệt nhất. Bởi vậy, sau Phùng Hưng, ở Giao Châu có nhiều
cuộc nổi dậy, lớn nhất là cuộc nổi dậy do Dương Thanh cầm đầu
(819). Nhưng tất cả đều thất bại và bị đàn áp dã man.
6
Lúc này nhà Đường đã trải qua giai đoạn thiết lập – khẳng
định (618-713) và cường thịnh (713-823) mà sử gọi là Sơ điệp và
Trung điệp nhà Đường để bước vào giai đoạn suy vong (823-907)
tức là thời kỳ Mạt điệp.
Nội bộ triều đình nhà Đường ở Trung Quốc hết sức lục đục,
rối ren.
7
Các vua nhà Đường trong thời Mạt điệp chỉ tin dùng hoạn
quan, văn thần võ tướng nhiều công lao đều lần lượt bị đối xử
một cách lạnh nhạt. Các vua nhà Đường như Đường Hiến Tông,
Đường Mục Tông, Đường Kính Tông, Đường Văn Tông... đều
do hoạn quan định đoạt với nhau.
8
Bởi hầu hết các vua thời Mạt điệp đều do bọn hoạn quan lập
nên, vì thế bị hoạn quan bức hiếp. Vua Đường đã có lúc phải thốt
lên rằng: “Trẫm lâu nay chẳng thể bằng Noãn vương của nhà
Chu hay Hiến đế của nhà Hán, bởi vì các vua ấy chỉ bị cường
thần hiếp bức, còn trẫm thì bị chính gia nô của mình hiếp bức”.
Bấy giờ, có tên hoạn quan dám coi vua Đường chỉ như là một...
học trò của mình mà thôi!
9
Trong lúc chính sự rối ren thì nhiều phong trào đấu tranh của
nhân dân Trung Quốc rầm rộ nổi lên, quyết liệt hơn cả là cuộc
khởi nghĩa của Hoàng Sào. Hoàng Sào đã đuổi vua Đường ra khỏi
kinh đô rồi tự lập làm Hoàng đế, đổi quốc hiệu là Đại Tề.
10
Hốt hoảng trước sức tấn công của đội quân Hoàng Sào, vua
Đường Hy Tông bèn cho gọi Lý Khắc Dụng, lúc ấy đang là tù
trưởng của người Sa Đà (cư ngụ ở vùng phía bắc Trung Quốc),
kiêm giữ chức Tiết độ sứ Đại Đồng, đem quân về cứu nguy. Lý
Khắc Dụng đánh lui được quân của Hoàng Sào, nhưng cũng kể
từ đó, hắn trở thành kẻ lộng hành. Vua Đường tiếp tục bị bức
hiếp như cũ.
11
Đường Chiêu Tông bàn mưu
cùng quan Tể tướng Thôi Dân triệu
Chu Toàn Trung đem quân về trị
hoạn quan. Chu Toàn Trung vốn là
tướng của Hoàng Sào nhưng phản
bội về với triều đình và quay lại
đánh giết những người theo Hoàng
Sào không chút nương tay nên được
phong là Tiết độ sứ. Chu Toàn Trung
mau chóng đánh bại Lý Khắc Dụng.
12
Sau đó, Chu Toàn Trung dẫn đại quân về kinh đô. Tất cả bọn
hoạn quan từng làm cho triều đình bao phen nghiêng ngửa đều
bị giết chết. Nhưng Chu Toàn Trung lại ỷ thế đó để lộng quyền
nên Đường Chiêu Tông phải phong cho hắn tước Lương vương.
13
Oai danh của Chu Toàn Trung ngày một lừng lẫy khiến cho cả
triều đình đều phải khiếp sợ. Bá quan chưa kịp đối phó thì Chu
Toàn Trung đã giết chết Đường Chiêu Tông và đưa Lý Chúc lên
ngôi. Còn hắn tự phong cho mình chức Tể tướng.
14
Ngay khi vừa tự phong
cho mình chức Tể tướng, để
tạo thêm vây cánh, Chu Toàn
Trung đã ép vua Đường phải
phong cho anh ruột của hắn là
Chu Toàn Dục chức Tĩnh Hải
Tiết độ sứ, tức là chức quan đô
hộ cao nhất của Trung Quốc ở
nước ta, thay cho kẻ đang giữ
chức này là Tăng Cổn.
15
Chu Toàn Dục là một kẻ bất tài. Bấy giờ có người gọi hắn là
“một dạng bò rừng có hai chân”. Nhưng hắn lại rất tham lam và
tàn bạo. Làm Tiết độ sứ, hắn đã vơ vét thẳng tay khiến dân ta vô
cùng điêu đứng.
16
Hễ bất cứ ai trái ý mình, Chu Toàn Dục cũng bắt tống giam
hoặc chém giết. Bởi lẽ này, hắn được tặng thêm cho biệt hiệu mới
là Ngục Thượng thư (vị quan có chức tương đương với Thượng
thư, luôn sẵn sàng bắt người tống giam vào ngục). Chỉ một thời
gian ngắn sau đó, chính Chu Toàn Trung đã phải xin vua nhà
Đường... bãi chức anh mình!
17
Sau khi Chu Toàn Dục bị triệu hồi về kinh đô và bị bãi chức,
Độc Cô Tổn được đưa sang làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ. Độc Cô Tổn
từng được giữ chức Tể Tướng của nhà Đường nhưng đã bị cách
chức và sau đó bị đẩy sang nước ta. Với Độc Cô Tổn, đây thực
chất là một chuyến bị đi đày viễn xứ.
18
Sau đó Độc Cô Tổn bị đày sang đảo Hải Nam cũng là khi Chu
Toàn Trung đang ráo riết chuẩn bị kế hoạch cướp ngôi của nhà
Đường. Vì lẽ đó, hắn không sai ai sang đứng đầu bộ máy đô hộ
ở nước ta thay cho Độc Cô Tổn nữa. Một khoảng trống hết sức
có lợi cho phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta đã
xuất hiện. Nói khác hơn, cơ hội ngàn vàng đã đến.
19
Vấn đề còn lại là ai có khả năng phát hiện,
và quan trọng hơn, có khả năng triệt để tận dụng
được cơ hội ngàn vàng này. Lúc này, một sự
nhạy bén và thông minh có thể đem lại những
thắng lợi to lớn mà tất cả những cuộc khởi nghĩa
trước đó không sao giành được.
20
21
Bấy giờ, người có công đầu trong việc phát hiện và triệt để tận
dụng được cơ hội ngàn vàng là Khúc Thừa Dụ. Ông là người đặt
nền móng căn bản đầu tiên cho kỷ nguyên độc lập và tự chủ của
nước nhà. Khúc Thừa Dụ chính thức xuất hiện trên vũ đài chính
trị của đất nước kể từ năm 905, tức là đúng hai năm trước khi nhà
Đường bị diệt vong.
22
Khúc Thừa Dụ người Hồng châu, nay thuộc huyện Ninh Giang,
tỉnh Hải Dương. Hiện tại vẫn chưa rõ ông sinh vào ngày tháng
năm vào. Tuy nhiên, căn cứ vào những ghi chép rất tản mạn của
các bộ sử cũ, bước đầu, cũng có thể tạm ước đoán rằng, Khúc
Thừa Dụ chào đời vào khoảng đầu những năm sáu mươi của thế
kỷ thứ IX, tức là khi mất (năm 907), ông hưởng thọ chừng hơn
bốn mươi tuổi.
23
Theo Ngô Thì Sĩ (tác giả của Việt
sử tiêu án) thì bấy giờ ở đất Hồng
châu, họ Khúc là một đại cự tộc,
có ảnh hưởng xã hội rất to lớn. Bản
thân Khúc Thừa Dụ còn là một Hào
trưởng, được nhân dân địa phương tin
phục. Gia đình Khúc Thừa Dụ giàu
có, “đất ruộng rộng mênh mông, tôi
tớ nhiều vô kể”.
24
Các bộ chính sử không hề ghi chép gì về tuổi ấu thơ và thời
trai trẻ của Khúc Thừa Dụ, nhưng bộ dã sử mang tên là Bán đại
văn (nửa đời nghe) của một nhà Nho chưa rõ họ tên, hiệu là Ớ
Vận Tiên sinh, có chép hai mẩu chuyện khá lý thú về quãng đời
này của Khúc Thừa Dụ.
25
Chuyện thứ nhất kể rằng, thời ấy, dân Hồng châu đã có tục chọi
trâu. Hàng năm, tục lệ này được tổ chức rất đều đặn và năm nào
cũng có đông đảo người nô nức đến xem. Có trâu thắng cuộc là
một vinh dự lớn lao, vì thế, làng nào cũng lo chăm chút cho trâu
chọi của làng mình. Lắm lúc, họ phải đi lùng mua cho bằng được
giống trâu chọi ở những miền rất xa.
26
Làng của Khúc Thừa Dụ tuy đã nhiều lần cất công đi tìm mua
được những con trâu chọi trông rất cường tráng, nhưng, chưa
lần nào trâu của làng ông giật nổi giải nhất. Dân làng lấy đó làm
điều sỉ nhục. Họ quyết gom thật nhiều tiền, thuê cho bằng được
những người buôn trâu tài ba đi mua giúp, nhưng kết quả cũng
chẳng khá hơn.
27
Thấy mọi người có vẻ buồn phiền vì luôn năm bị thua cuộc,
Khúc Thừa Dụ lúc đó mới lên mười, bước tới thưa với cha và các
bậc chức sắc trong làng rằng: “Con nghĩ là cứ để cho dân các làng
khác hí hửng với những con trâu nhiều phen đoạt giải của họ. Năm
nay, nhất định trâu làng ta sẽ thắng. Nhất định là như thế mà!”.
28
“Cả làng đang lo, không biết
tìm đâu ra trâu tốt, cháu biết gì
mà chen vào?”. Một người lớn
tuổi nói với Khúc Thừa Dụ như
vậy. Nhưng Khúc Thừa Dụ vẫn
bình tĩnh nói: “Theo con thì
chẳng cần tốn công tốn của đi
mua trâu tốt làm gì nữa. Mấy
con trâu chọi mua về từ năm
ngoái đã quá đủ để thắng cuộc
rồi. Con xin vì làng mà mạnh
dạn hiến kế”.
29
Cha của Khúc Thừa Dụ ôn tồn bảo: “Trâu chọi cũ mà thắng
thì đã thắng từ năm cũ rồi, có đâu lại đợi đến năm nay”. Khúc
Thừa Dụ không chút nao núng, nói tiếp rằng: “Thưa cha, trâu
cũ mà biết chọi theo cách mới thì nhất định sẽ thắng. Xin cha và
dân làng cố giữ bí mật đến cùng thì con mới dám nói cách chọi
trâu mới, khiến làng ta nhất định sẽ giật giải”. Mọi người đồng ý.
30
Khúc Thừa Dụ thưa: “Năm nào mỗi làng cũng đem ra ba con
trâu, gồm nhất đẳng, nhị đẳng và tam đẳng. Trâu ở đẳng hạng
nào thì chọi với trâu ở đẳng của làng bên thì trâu làng ta thua.
Tương tự như vậy, nếu lấy trâu nhị đẳng của làng ta chọi với trâu
nhị đẳng của làng bên thì trâu làng ta cũng thua...”.
31
32
... “Và nếu lấy trâu tam đẳng của làng ta chọi với trâu tam
đẳng của làng bên, thì trâu của làng ta cũng thua nốt. Nhưng trâu
nhất đẳng của làng ta lại thắng được trâu nhị đẳng của làng bên,
và trâu nhị đẳng của làng ta lại cũng thắng được trâu tam đẳng
của làng bên. Cho nên, con xin được bí mật đổi ngược lại...”
33
“Nay, ta hãy lấy trâu tam đẳng của
ta mà chọi với trâu nhất đẳng của làng
bên. Dĩ nhiên là trâu làng ta thua và
do đó, dân làng bên sẽ rất hí hửng, chủ
quan. Sau đó, ta lấy trâu nhất đẳng
của làng mình chọi với trâu nhị đẳng
của làng bên, lấy trâu nhị đẳng của
làng mình mà chọi với trâu tam đẳng
của làng bên. Hai trận sau ta thắng,
tức là rốt cuộc, ta đã thắng.”
34
Bấy giờ, ai cũng cho ý kiến của cậu bé Khúc Thừa Dụ là diệu
kế. Và quả y như rằng, năm ấy, trâu của làng Khúc Thừa Dụ giật
giải. Cả làng không ai là không vui. Sau chuyện này, ai cũng cho
rằng mai sau, Khúc Thừa Dụ sẽ là đấng kỳ tài trong thiên hạ, có
thể nhìn thấy trước các việc khi chưa xảy ra, trăm họ sẽ được nhờ
ơn không phải là ít.
35
Chuyện thứ hai kể rằng, bấy giờ, Khúc Thừa Dụ đã là một
thanh niên cường tráng, và được nối nghiệp làm Hào trưởng. Ông
thường tìm cách chiêu nạp hào kiệt và tráng sĩ bốn phương, tất
cả đều mượn danh nghĩa là gia khách của Khúc Thừa Dụ để che
mắt bọn đô hộ, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.
36
Giặc đánh hơi được tin
này, bèn bất ngờ sai một
nhóm quân sĩ, mượn tiếng
viếng thăm nhà Hào trưởng
họ Khúc để kiểm nghiệm
thực hư. Khúc Thừa Dụ
nắm trước được ý đồ đó. Có
người khuyên ông nên tung
quân đánh phủ đầu, diệt cho
sạch bọn cả gan lần mò tới
nơi nghĩa sĩ đang luyện tập,
rồi nhân đó, quét sạch quân
giặc ra khỏi cõi bờ, nhưng
ông chỉ mỉm cười.
37
Thế rồi ông gọi những người thân tín lại mà nói: Nay, giặc tuy
yếu nhưng sức ta cũng chưa mạnh, đánh thắng một trận nhỏ chẳng
đủ bù cho thất bại to sau này, vì thế, ta nên làm thế này, thế này...
Mọi người nghe ông nói xong, đều thích chí cười ha hả. Bản thân
Khúc Thừa Dụ cũng cười rung cả người lên.
38
Kế hiểm của Khúc Thừa Dụ, về sau, dân làng ông ai ai cũng
biết: Thì ra, ông đã sai lấy những trái ớt thật cay, giã thật nhỏ, trộn
chung với muối, bỏ vào một cái túi vải, và... đem túi vải có muối
ớt ấy lồng vào hạ bộ trâu rồi cột chặt lại. Ông sai dắt hai con trâu
chọi ra đầu đoạn đường hẹp chờ sẵn.
39
Đúng lúc lính giặc bắt đầu lố nhố ở giữa đoạn đường hẹp, ông
hạ lệnh lấy nước sôi dội vào túi muối ớt. Trâu hoảng hốt rồi lồng
lên, chạy thục mạng. Muối ớt càng thấm, trâu càng trở nên hung
dữ, gặp bất cứ ai cũng húc. Giặc chưa hết hoàn hồn bởi con trâu
đầu tiên thì đã bị con thứ hai lao tới. Giữa đường hẹp, chúng chỉ
còn biết kêu trời mà thôi.
40
41
Bởi quá bất ngờ, cả toán đều bị thương tích nặng,
có tên chết ngay tại chỗ. Khi cả hai con trâu đã chạy
xa rồi, Khúc Thừa Dụ mới cho người ra khiêng đám
lính bị thương về dinh quan đô hộ, lại còn vờ tỏ sự
xót thương.
42
Khi ở Trung Quốc, việc Chu Toàn Trung giết vua Đường khiến
cho xã hội Trung Quốc đương thời phải náo loạn, thì ở đất Hồng
châu, Khúc Thừa Dụ cũng ngày đêm ráo riết chiêu mộ nghĩa binh
để chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa. Nhờ tài cao đức dày, Khúc Thừa
Dụ được khắp nơi mến mộ, theo về ngày một đông.
43
Chuyện thí nghịch của Chu Toàn Trung cũng trực tiếp gây nên
những ảnh hưởng không nhỏ đối với bọn quan lại đô hộ ở nước
ta. Cũng năm này, Độc Cô Tổn vừa sang nhận chức Tĩnh Hải Tiết
độ sứ được hai tháng đã bị đày đi đảo Hải Nam và chết ở đó. Độc
Cô Tổn chính là viên quan đô hộ cuối cùng của phong kiến Trung
Quốc đối với nước ta thời Bắc thuộc.
44
Khi Độc Cô Tổn đi rồi, chức đô hộ ở nước ta bỏ
trống. Bấy giờ, Chu Toàn Trung cũng đang nóng
lòng tìm cách cướp ngôi của nhà Đường, do vậy hắn
không thể nào can thiệp sâu hơn vào tình hình của
nước ta. Nguồn tin quan trọng này đã nhanh chóng
truyền đến Khúc Thừa Dụ và các nghĩa sĩ của ông.
45
Nhiều người khuyên Khúc Thừa Dụ nên thừa cơ mà dấy nghĩa,
đem quân đánh một trận sống mái với bọn đô hộ, nhưng Khúc
Thừa Dụ lại nói: “Không có binh hùng và tướng mạnh thì không
thể làm nên việc lớn, song lúc này chưa phải là lúc ra tay chém
giết cho hả giận. Trả được tư thù mà không rửa được nhục cho
nước, phỏng có ích gì?”.
46
Nói rồi, Khúc Thừa Dụ sai người đi khắp bốn phương gấp rút
chiêu mộ thêm lực lượng và tích trữ lương thực, đồng thời, theo
dõi chặt chẽ mọi diễn biến trong thành Tống Bình. Thành này, nay
thuộc Hà Nội, vào thời Bắc thuộc, đó là thủ phủ của bọn quan lại
đô hộ. Những tên Tĩnh Hải Tiết độ sứ trước đó như Tăng Cổn,
Chu Toàn Trung, Độc Cô Tổn... đều đặt trụ sở tại đấy.
47
Năm 905, tuy công việc chuẩn bị của Khúc Thừa Dụ chưa thật
sự đầy đủ, nhưng thời cơ giành chính quyền thì đã quá chín mùi,
bởi vậy, ông liền quyết định đem toàn bộ lực lượng của mình tiến
vào thành Tống Bình. Bấy giờ, tất cả chính quyền đô hộ của nhà
Đường ở nước ta đã hoàn toàn rệu rã, khả năng đem quân đi cứu
nguy của triều đình nhà Đường cũng không còn.
48
 





