BẢN TIN
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
STN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:30' 13-12-2024
Dung lượng: 6.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:30' 13-12-2024
Dung lượng: 6.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ ba
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Đinh Văn Liên biên soạn ;
họa sĩ Nguyễn Quang Vinh. - Tái bản lần thứ 3. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
88 tr. : minh họa ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.11).
1. Ngô Quyền, 898-944. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Ngô, 939-944. 3. Sông
Bạch Đằng — Trận đánh — 938.
I. Trần Bạch Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử
Việt Nam bằng tranh.
1. Ngô Quyền, 898-944. 2. Vietnam — History — Ngô Dynasty, 939-944. 3. Bạch Đằng
river — Battles — 938.
959.7021 — dc 22
N569
LỜI GIỚI THIỆU
Loạn Ngũ đại thập quốc ở Trung Hoa đã tạo cơ hội
ngàn vàng cho nước ta giành lại nền độc lập. Dù họ
Khúc, họ Dương đã xây dựng được nền tự chủ, nhưng
về danh nghĩa, chức Tiết độ sứ vẫn bao hàm nghĩa là
phiên trấn của “thiên triều” phương Bắc.
Với chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch
Đằng, nhà Nam Hán phải từ bỏ hoàn toàn mộng xâm
chiếm nước ta. Sau trận Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng
vương, thành lập nên hẳn một triều đại, dựng triều đình,
định quan chức, chính thức xác lập nền độc lập của nước
nhà. Đây cũng chính là bước ngoặt quan trọng trong
lịch sử, mở ra một kỉ nguyên độc lập, phát triển, để lại
nhiều dấu son qua các triều đại: nhà Đinh, nhà tiền Lê,
nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 11
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Ngô Quyền đại
phá quân Nam Hán” phần lời do Đinh Văn Liên biên
soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Quang Vinh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 11
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
“Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt
ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở
nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám
lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được
dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương,
chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của
nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được.”
Đại Việt sử ký toàn thư
4
Ngô Quyền là người làng
Đường Lâm, nay thuộc thị xã
Sơn Tây, Hà Nội, cha là thứ
sử Ngô Mân, một Hào trưởng
có uy tín và giỏi võ nghệ ở
địa phương. Một hôm mẹ Ngô
Quyền nằm mơ thấy một con
đại bàng trắng từ trên cây lao
vút xuống người bà, bà giật
mình tỉnh thức và sau đó là thụ
thai ông.
5
Năm 898, tương truyền khi Ngô Quyền sinh ra,
có ánh sáng lạ đầy nhà, hương bay thoang thoảng
và chim về ca hát líu lo. Cũng theo tương truyền,
Ngô Quyền sinh ra tướng mạo khác thường, khôi
ngô tuấn tú, mặt vuông mắt sáng. Đặc biệt, trên
lưng có ba nốt ruồi rất lạ.
6
Lúc bấy giờ có một ông thầy tướng số râu tóc bạc phơ, tướng
mạo ung dung, nức tiếng thông thái cả một vùng Ái châu rộng
lớn, nhân đi ngang qua, nhìn ngắm Ngô Quyền, rồi nói với thứ
sử Ngô Mân: “Nhà ông vừa sinh được một quý nhân, thằng bé có
cốt cách hơn người và có phước lớn quy tụ, ắt ngày sau sẽ là bậc
anh hào giúp dân cứu nước”.
7
Ngô Quyền lớn lên trở thành một thanh niên có thân thể cường
tráng, trí tuệ xuất chúng. Sử cũ miêu tả ông “vẻ người khôi ngô,
mắt sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, sức có thể nhấc
vạc giơ cao”.
8
Nối chí của cha, Ngô Quyền rất chăm học võ nghệ. Những đêm
trăng sáng, ông thường rủ đám trai làng tập võ suốt đêm. Võ nghệ
ông cao cường, song tính tình khoan hòa nên ai cũng mến mộ.
9
Đường Lâm là một xã trung du có rất nhiều rừng rậm nên săn
bắn là một tập tục, một lễ hội và là một thú vui của dân làng.
Giống như những trai tráng trong làng, Ngô Quyền rất say mê
săn bắn. Ông có tài bắn bách phát bách trúng. Vào mỗi mùa săn,
ông dẫn đầu trai tráng trong làng đua tài săn bắn với làng
bên và bao giờ cũng mang thịt thú rừng cùng những
phần thưởng từ cuộc thi tài về cho làng của mình.
10
Ngô Quyền là người có hiếu nghĩa với cha mẹ. Cha ông là một
Hào trưởng ở địa phương, và cũng là một bộ tướng của họ Khúc
cùng thời với Dương Đình Nghệ, luôn truyền cho ông ý hướng
chống giặc ngoại xâm phương Bắc và thống nhất giang sơn một
cõi yên vui.
11
Đặc biệt, Ngô Quyền là người quảng bác, ưa kết giao nên bạn
bè của ông rất đông. Nhiều người ở miệt núi cao hay ở những vùng
biển xa nghe tiếng cũng tìm đến. Và, trong tiếng trống đồng ngày
hội lễ hay trong một mùa săn nô nức hoặc trong những buổi tập
võ nghệ say mê, quanh Ngô Quyền bao giờ cũng có đông đảo trai
tráng và bè bạn gần xa.
12
Giúp đỡ kẻ yếu đuối, ra tay
nghĩa hiệp là việc làm thường
xuyên của Ngô Quyền và bè
bạn. Có lần gặp bọn cậy quyền
cậy thế, bắt cóc đàn bà con gái,
tiếng khóc than, la hét vang dậy
một góc chợ. Ngô Quyền phẫn
nộ nhảy vào đâm chết tên suất
đội tàn ác. Từ đó tiếng tăm của
ông lại càng lan rộng khắp nơi.
13
Ngô Quyền lớn lên trong
bối cảnh họ Khúc đã ba đời
dựng nền tự chủ (Khúc Thừa
Dụ, Khúc Thừa Hạo và Khúc
Thừa Mỹ). Họ Khúc xây dựng
đất nước, thống nhất các Hào
trưởng địa phương bằng sự
“khoan dung, giản dị” để “nhân
dân đều được yên vui”. Thứ sử
Ngô Mân và Ngô Quyền đều
tham gia xây dựng chính quyền
họ Khúc, lấy tự do và hạnh
phúc của nhân dân làm trọng.
14
Nhưng khi Khúc Thừa Mỹ thay cha là Khúc Thừa Hạo làm
Tiết độ sứ thì Nam Hán, một tiểu triều đình cát cứ ở Quảng Châu,
Trung Quốc, bắt đầu cường thịnh và đang ra sức bành trướng.
Năm 930, Nam Hán đem một lực lượng quân thủy bộ hùng mạnh
xâm lược nước ta.
15
Khúc Thừa Mỹ trước đây chỉ lo dựa vào uy thế đã rệu rã của
triều đình Hậu Lương mà không lo tập họp binh lực trong nước.
Nay bị tấn công, ông mới nhặt nhạnh vội vã một số quân đem ra
chống cự, một mặt cho người triệu tập các Hào trưởng địa phương
đem quân ứng cứu. Khi Ngô Quyền nghe tin, đem quân Đường
Lâm đến thì đã quá trễ, thành Đại La bị thất thủ, lửa cháy ngút
trời và Khúc Thừa Mỹ đã bị bắt đem về Quảng Châu.
16
Quân Nam Hán thiết lập lại nền thống trị, cử
Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu có tướng
Lương Khắc Trinh giúp sức cùng giữ thành Đại
La và bắt đầu đặt lại nền đô hộ hà khắc và cướp
bóc lên đất nước ta.
17
Nhưng quân Nam Hán chỉ thống
trị được vùng châu thổ sông Hồng.
Từ đèo Ba Dội (Tam Điệp) trở vào,
cả một vùng rộng lớn của châu Ái
(Thanh Hóa), châu Hoan (Nghệ
Tĩnh) thì đều do các Hào trưởng địa
phương và các bộ tướng cũ của họ
Khúc nắm quyền kiểm soát. Nhân
dân ở đây đang sôi sục ý chí căm thù,
tích trữ lương thực, luyện võ nghệ để
chờ ngày khởi binh rửa hận.
18
Lúc bấy giờ, ở lò võ làng Ràng (xã Dương Xá, huyện Thiệu
Hóa, tỉnh Thanh Hóa) đã hình thành một trung tâm kháng chiến
khá mạnh. Người đứng đầu trung tâm này là một trong những bộ
tướng cũ của họ Khúc. Ông tích thảo dồn lương, chiêu mộ nghĩa
sĩ để chuẩn bị đại sự cho nước nhà.
19
Dương Đình Nghệ nuôi trong nhà 3000 nghĩa tử
(con nuôi), ngày đêm luyện tập võ nghệ, kiếm cung
cùng cách bố trí trận mạc. Ông dùng tình nghĩa để
chinh phục mọi người, chào đón những người nghĩa
hiệp, đồng thời tổ chức chặt chẽ đội ngũ để chuẩn bị
một trận quyết chiến với quân xâm lược Nam Hán.
20
Làng Ràng của Dương Đình
Nghệ trở thành nơi hội tụ anh hào.
Hào kiệt ở khắp nơi đều đem gia
tướng, nghĩa binh về tụ nghĩa dưới
cờ của Dương Đình Nghệ mong có
ngày đánh đuổi quân xâm lược giành
lại quyền tự chủ cho dân tộc mà họ
Khúc đã gầy dựng nên.
21
Trong số những người anh hùng đó có Đinh
Công Trứ, một Hào trưởng vùng Trương Châu
(Ninh Bình) đem gia thuộc đến tụ nghĩa. Ông
là người trung thực, khẳng khái và có tài thao
lược nên được Dương Đình Nghệ tin tưởng
giao cho đi trấn giữ Hoan châu.
22
Ngô Quyền đau xót trước cảnh bạo ngược của quân Nam Hán
cũng rong ruổi từ vùng Đường Lâm về theo Dương Đình Nghệ,
bạn đồng liêu của cha mình. Con người khôi ngô tuấn tú, giỏi võ
và có nhiều mưu lược này được Dương Đình Nghệ rất yêu mến
và nghĩa quân quí trọng.
23
Trong những bộ tướng của Dương Đình Nghệ có một người
mặt mày dữ tợn, râu quai nón tua tủa, dáng người cộc cằn, đôi
mắt trắng lộ rõ dã tâm. Đấy là Kiều Công Tiễn, một Hào trưởng
ở châu Phong. Kiều Công Tiễn theo Dương Đình Nghệ từ những
ngày đầu và có sức mạnh vô địch nên Dương Đình Nghệ tin tưởng
giao cho nhiều trọng trách.
24
Đêm rằm hàng tháng, trong doanh trại nghĩa quân thường mở
hội tỷ thí võ công để tranh tài cao thấp. Kiều thách Ngô Quyền thi
đấu với điều kiện ai thắng sẽ được hỏi Dương Nhi làm vợ. Đêm
hôm đó, dưới sự chứng kiến của Dương Đình Nghệ, Dương Nhi
và các anh hùng nghĩa sĩ, Kiều Công Tiễn đã ra những đòn độc tới
tấp để quyết hạ Ngô Quyền. Nhưng Ngô Quyền vẫn ung dung đón
đỡ và bằng một đòn gia truyền đã quật ngã và hạ gục đối phương.
25
Kiều Công Tiễn thấy Ngô Quyền mới
đến mà được Dương Đình Nghệ yêu mến
và các tướng sĩ nể phục thì đem lòng ganh
ghét và căm tức. Vả lại Kiều rất say mê
Dương Nhi, người con gái thùy mị nết na
và xinh đẹp của Dương Đình Nghệ, song
Dương Đình Nghệ mãi chưa chịu gả còn
Dương Nhi càng có ý quyến luyến với
Ngô Quyền.
26
Từ đó, Dương Đình Nghệ càng tin tưởng Ngô Quyền. Ông gả
con gái cho Ngô Quyền, giữ Ngô Quyền lại làm tướng lệnh dưới
trướng và cho chỉ huy một đội quân chủ lực.
27
Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, mặc dù được chúa Nam
Hán lấy lòng bằng cách giao cho coi giữ châu Ái, tháng 3 năm
931, Dương Đình Nghệ đã ồ ạt tiến quân ra Giao châu, bao vây
thành Đại La.
28
Dưới sự chỉ huy của Dương Đình Nghệ,
Ngô Quyền hô quân công phá thành dữ dội,
quân địch trong thành tan vỡ, tướng giặc Lương
Khắc Trinh bị giết chết trong đám loạn quân.
Tên thứ sử Lý Tiến theo đám tàn quân trốn
chạy về nước nhưng hắn cũng không thoát khỏi
cái chết nhục nhã: bị triều đình Nam Hán xử
tử vì tội hèn nhát.
29
30
Từ bên kia biên giới, triều đình Nam Hán vội vã sai Thừa chỉ
Trình Bảo đem quân sang nước ta cứu viện. Viện quân địch bao
vây lại thành Đại La để dồn ép và tiêu diệt quân ta. Nhưng Dương
Đình Nghệ và Ngô Quyền đã kịp thời chia quân làm hai cánh
xông ra ngoài thành đánh ép lại. Quân địch rối loạn, tan vỡ, tướng
Trình Bảo bị giết chết, đạo quân tiếp viện bị tiêu diệt hoàn toàn.
31
Thế là quân ta đại thắng, quân Nam Hán bị thất bại thảm hại.
Nước ta lại một lần nữa giành được quyền tự chủ, nhân dân được
tự do định đoạt vận mạng của mình. Cờ nghĩa lại bay phất phới
trên thành Đại La.
32
Dương Đình Nghệ, người anh hùng dân tộc, tự xưng là Tiết độ
sứ, đứng ra lãnh đạo đất nước. Ông cử Đinh Công Trứ làm thứ sử
Hoan châu và Ngô Quyền phụ trách Ái châu.
33
Ngô Quyền dẫn quân về trấn trị Ái châu, khoan hòa nhân ái,
giảm bớt thuế khóa, lực dịch; vừa chăm lo canh tác, vừa rèn luyện
quân lính để phòng khi hữu sự. Cả một vùng Ái châu rộng lớn đều
giữ vững an ninh, người người no đủ. Khắp nơi mọi người đều yêu
mến con người anh hùng và tài trí này.
34
Không bao lâu sau, tháng 4 năm 937, Kiều Công Tiễn với dã
tâm phản trắc có sẵn, đã giết chết Dương Đình Nghệ tự lập mình
lên làm Tiết độ sứ.
35
Ngô Quyền và các tướng sĩ ở Ái châu nghe tin đều tiếc thương
người anh hùng có công đánh đuổi quân Nam Hán giành quyền
tự chủ cho dân tộc kế tục xứng đáng sự nghiệp mà họ Khúc đã
tạo dựng. Ngô Quyền vừa là tướng vừa là con rể của Dương Đình
Nghệ nên không chỉ đau xót mà còn vô cùng tức giận. Ông cùng
các tướng sĩ ở Ái châu lập bàn hương án để tế Dương Đình Nghệ
và thề quyết trả mối hận thù này.
36
Kiều Công Tiễn sau khi mưu hại Dương Đình
Nghệ bị các Hào trưởng bất bình xa lánh, tướng
sĩ không phục, nhân dân căm ghét, lại sợ thế lực
của Ngô Quyền ở Ái châu nên đã đê hèn đầu hàng
và cầu cứu quân Nam Hán. Thế là từ việc làm bất
nghĩa, Kiều Công Tiễn đã trở thành tên bán nước.
37
Vua Nam Hán mừng rỡ cho đây là dịp tốt để xâm lược và nô
dịch nước ta lần thứ hai vừa để bành trướng thế lực vừa trả mối
hận thù năm xưa. Tin rằng với binh hùng tướng mạnh lại có lực
lượng nội ứng của Kiều Công Tiễn, thắng lợi chắc chắn sẽ nắm
trong tay, vua Nam Hán cho mở yến tiệc để ăn mừng và bàn việc
tiến binh.
38
Nhưng quan lại trong triều lại tỏ ra dè dặt, có người
khuyên vua Nam Hán nên thôi binh để dưỡng sức chờ
thời cơ. Có người như Sùng Văn hầu Tiêu Ích nói:
“Hiện nay mưa dầm hàng tuần mà đường biển thì hiểm
trở xa xôi. Ngô Quyền là người kiệt hiệt, chớ nên coi
thường. Đại quân đi nên cẩn thận, chắc chắn. Dùng
nhiều kẻ dẫn đường rồi sau hãy tính”.
39
Vua Nam Hán đích thân đề ra kế
hoạch tiến binh. Y phong cho con trai là
Lưu Hoằng Tháo làm Giao vương thống
lĩnh một đội thủy binh hùng mạnh vượt
biển, mượn tiếng giúp Kiều Công Tiễn
đánh Ngô Quyền song thực chất là xâm
lược nước ta.
40
Còn vua Nam Hán tự mình làm tướng soái dẫn một đội hậu
binh đông đảo, cờ xí rộn ràng đến đóng ở trấn Hải Môn (phía tây
nam huyện Bác Bạch, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) sát biên giới
nước ta để gây thanh thế và kịp thời chi viện khi cần thiết.
41
Lúc bấy giờ, Ngô Quyền trở thành ngọn cờ qui tụ mọi lực lượng
yêu nước. Bộ sử ca cổ thế kỷ XVII, Thiên Nam Ngữ Lục có ghi:
“Bảo nhau dắt trẻ phù già,
Bỏ chưng Công Tiễn về nhà Ngô Vương.
Dưới cờ cả bé khóc thương,
Nguyện xin trả nghĩa họ Dương cho tuyền.
Chúng tôi sức bé tài hèn,
Chồng nguyện quẩy vác, vợ nguyền đem cơm.
Giúp công quét sạch giang sơn,
Uyển thành chuyển chủ mới yên lòng hờn”.
42
Lòng dân ở các châu Ái, Hoan và cả ở châu
Giao Giao
đều hướng về theo Ngô Quyền. Các Hào trưởng
hùng mạnh và nổi tiếng như Lã Minh ở Liễu Chữ
(Thuận Thành, Bắc Ninh), Phạm Bạch Hổ ở Ngọc
Đường (Kim Động, Hưng Yên), Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ
Động (Thanh Oai, Hà Nội), Phạm Chiêm ở Nam Sách (Hải
Dương), Đinh Công Trứ ở Hoa Lư (Ninh Bình)... đều đem quân
về theo Ngô Quyền, quyết trừng phạt tên phản bội và phá tan quân
Nam Hán.
43
Đặc biệt, trong số này có Kiều Công Hãn là cháu của Kiều
Công Tiễn cũng căm tức hành vi phản bội của Tiễn, mang quân
về phía chính nghĩa của dân tộc. Ông được Ngô Quyền an ủi, tin
tưởng cho cùng các tướng bàn bạc việc quân.
44
Với kế hoạch trước trừ nội phản sau diệt ngoại xâm, sau một
thời gian chuẩn bị, vào đầu mùa đông năm 938, đạo quân của Ngô
Quyền lớp lớp vượt đèo Ba Dội tiến quân ra bắc tiến công thành
Đại La. Trước sức mạnh như vũ bão và lòng căm hờn sâu sắc của
dân quân, thành Đại La bị phá nhanh chóng.
45
Kiều Công Tiễn đêm ngày ngóng chờ quân Nam Hán không
ngờ lại phải “đón tiếp” quân của Ngô Quyền. Y hốt hoảng hô quân
chống đỡ. Nhưng chủ tướng không minh thì quân chẳng mấy hồi
mà rã, cuối cùng, Kiều Công Tiễn đã bị Ngô Quyền bắt sống.
46
Và tên bất nghĩa đối với chủ tướng, tên đầu hàng ngoại bang
phản bội lại dân tộc Kiều Công Tiễn đã bị đưa lên mặt thành chém
đầu. Nỗi oan của chủ tướng Dương Đình Nghệ đã được giải, mối
họa bên trong đã được trừ, lòng dân càng phấn khởi hướng về Ngô
Quyền nguyện cùng ông giết giặc.
47
Ngô Quyền họp các tướng tá bàn rằng: “Hoằng Tháo
là đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mệt mỏi,
lại nghe được tin Công Tiễn bị giết chết, không còn
người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức
còn mạnh, địch với quân mỏi mệt tất phá được. Song
chúng lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì
chuyện được thua chẳng thể biết được...”
48
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Đinh Văn Liên biên soạn ;
họa sĩ Nguyễn Quang Vinh. - Tái bản lần thứ 3. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
88 tr. : minh họa ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.11).
1. Ngô Quyền, 898-944. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Ngô, 939-944. 3. Sông
Bạch Đằng — Trận đánh — 938.
I. Trần Bạch Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử
Việt Nam bằng tranh.
1. Ngô Quyền, 898-944. 2. Vietnam — History — Ngô Dynasty, 939-944. 3. Bạch Đằng
river — Battles — 938.
959.7021 — dc 22
N569
LỜI GIỚI THIỆU
Loạn Ngũ đại thập quốc ở Trung Hoa đã tạo cơ hội
ngàn vàng cho nước ta giành lại nền độc lập. Dù họ
Khúc, họ Dương đã xây dựng được nền tự chủ, nhưng
về danh nghĩa, chức Tiết độ sứ vẫn bao hàm nghĩa là
phiên trấn của “thiên triều” phương Bắc.
Với chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch
Đằng, nhà Nam Hán phải từ bỏ hoàn toàn mộng xâm
chiếm nước ta. Sau trận Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng
vương, thành lập nên hẳn một triều đại, dựng triều đình,
định quan chức, chính thức xác lập nền độc lập của nước
nhà. Đây cũng chính là bước ngoặt quan trọng trong
lịch sử, mở ra một kỉ nguyên độc lập, phát triển, để lại
nhiều dấu son qua các triều đại: nhà Đinh, nhà tiền Lê,
nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 11
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Ngô Quyền đại
phá quân Nam Hán” phần lời do Đinh Văn Liên biên
soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Quang Vinh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 11
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
“Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt
ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở
nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám
lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được
dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương,
chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của
nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được.”
Đại Việt sử ký toàn thư
4
Ngô Quyền là người làng
Đường Lâm, nay thuộc thị xã
Sơn Tây, Hà Nội, cha là thứ
sử Ngô Mân, một Hào trưởng
có uy tín và giỏi võ nghệ ở
địa phương. Một hôm mẹ Ngô
Quyền nằm mơ thấy một con
đại bàng trắng từ trên cây lao
vút xuống người bà, bà giật
mình tỉnh thức và sau đó là thụ
thai ông.
5
Năm 898, tương truyền khi Ngô Quyền sinh ra,
có ánh sáng lạ đầy nhà, hương bay thoang thoảng
và chim về ca hát líu lo. Cũng theo tương truyền,
Ngô Quyền sinh ra tướng mạo khác thường, khôi
ngô tuấn tú, mặt vuông mắt sáng. Đặc biệt, trên
lưng có ba nốt ruồi rất lạ.
6
Lúc bấy giờ có một ông thầy tướng số râu tóc bạc phơ, tướng
mạo ung dung, nức tiếng thông thái cả một vùng Ái châu rộng
lớn, nhân đi ngang qua, nhìn ngắm Ngô Quyền, rồi nói với thứ
sử Ngô Mân: “Nhà ông vừa sinh được một quý nhân, thằng bé có
cốt cách hơn người và có phước lớn quy tụ, ắt ngày sau sẽ là bậc
anh hào giúp dân cứu nước”.
7
Ngô Quyền lớn lên trở thành một thanh niên có thân thể cường
tráng, trí tuệ xuất chúng. Sử cũ miêu tả ông “vẻ người khôi ngô,
mắt sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, sức có thể nhấc
vạc giơ cao”.
8
Nối chí của cha, Ngô Quyền rất chăm học võ nghệ. Những đêm
trăng sáng, ông thường rủ đám trai làng tập võ suốt đêm. Võ nghệ
ông cao cường, song tính tình khoan hòa nên ai cũng mến mộ.
9
Đường Lâm là một xã trung du có rất nhiều rừng rậm nên săn
bắn là một tập tục, một lễ hội và là một thú vui của dân làng.
Giống như những trai tráng trong làng, Ngô Quyền rất say mê
săn bắn. Ông có tài bắn bách phát bách trúng. Vào mỗi mùa săn,
ông dẫn đầu trai tráng trong làng đua tài săn bắn với làng
bên và bao giờ cũng mang thịt thú rừng cùng những
phần thưởng từ cuộc thi tài về cho làng của mình.
10
Ngô Quyền là người có hiếu nghĩa với cha mẹ. Cha ông là một
Hào trưởng ở địa phương, và cũng là một bộ tướng của họ Khúc
cùng thời với Dương Đình Nghệ, luôn truyền cho ông ý hướng
chống giặc ngoại xâm phương Bắc và thống nhất giang sơn một
cõi yên vui.
11
Đặc biệt, Ngô Quyền là người quảng bác, ưa kết giao nên bạn
bè của ông rất đông. Nhiều người ở miệt núi cao hay ở những vùng
biển xa nghe tiếng cũng tìm đến. Và, trong tiếng trống đồng ngày
hội lễ hay trong một mùa săn nô nức hoặc trong những buổi tập
võ nghệ say mê, quanh Ngô Quyền bao giờ cũng có đông đảo trai
tráng và bè bạn gần xa.
12
Giúp đỡ kẻ yếu đuối, ra tay
nghĩa hiệp là việc làm thường
xuyên của Ngô Quyền và bè
bạn. Có lần gặp bọn cậy quyền
cậy thế, bắt cóc đàn bà con gái,
tiếng khóc than, la hét vang dậy
một góc chợ. Ngô Quyền phẫn
nộ nhảy vào đâm chết tên suất
đội tàn ác. Từ đó tiếng tăm của
ông lại càng lan rộng khắp nơi.
13
Ngô Quyền lớn lên trong
bối cảnh họ Khúc đã ba đời
dựng nền tự chủ (Khúc Thừa
Dụ, Khúc Thừa Hạo và Khúc
Thừa Mỹ). Họ Khúc xây dựng
đất nước, thống nhất các Hào
trưởng địa phương bằng sự
“khoan dung, giản dị” để “nhân
dân đều được yên vui”. Thứ sử
Ngô Mân và Ngô Quyền đều
tham gia xây dựng chính quyền
họ Khúc, lấy tự do và hạnh
phúc của nhân dân làm trọng.
14
Nhưng khi Khúc Thừa Mỹ thay cha là Khúc Thừa Hạo làm
Tiết độ sứ thì Nam Hán, một tiểu triều đình cát cứ ở Quảng Châu,
Trung Quốc, bắt đầu cường thịnh và đang ra sức bành trướng.
Năm 930, Nam Hán đem một lực lượng quân thủy bộ hùng mạnh
xâm lược nước ta.
15
Khúc Thừa Mỹ trước đây chỉ lo dựa vào uy thế đã rệu rã của
triều đình Hậu Lương mà không lo tập họp binh lực trong nước.
Nay bị tấn công, ông mới nhặt nhạnh vội vã một số quân đem ra
chống cự, một mặt cho người triệu tập các Hào trưởng địa phương
đem quân ứng cứu. Khi Ngô Quyền nghe tin, đem quân Đường
Lâm đến thì đã quá trễ, thành Đại La bị thất thủ, lửa cháy ngút
trời và Khúc Thừa Mỹ đã bị bắt đem về Quảng Châu.
16
Quân Nam Hán thiết lập lại nền thống trị, cử
Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu có tướng
Lương Khắc Trinh giúp sức cùng giữ thành Đại
La và bắt đầu đặt lại nền đô hộ hà khắc và cướp
bóc lên đất nước ta.
17
Nhưng quân Nam Hán chỉ thống
trị được vùng châu thổ sông Hồng.
Từ đèo Ba Dội (Tam Điệp) trở vào,
cả một vùng rộng lớn của châu Ái
(Thanh Hóa), châu Hoan (Nghệ
Tĩnh) thì đều do các Hào trưởng địa
phương và các bộ tướng cũ của họ
Khúc nắm quyền kiểm soát. Nhân
dân ở đây đang sôi sục ý chí căm thù,
tích trữ lương thực, luyện võ nghệ để
chờ ngày khởi binh rửa hận.
18
Lúc bấy giờ, ở lò võ làng Ràng (xã Dương Xá, huyện Thiệu
Hóa, tỉnh Thanh Hóa) đã hình thành một trung tâm kháng chiến
khá mạnh. Người đứng đầu trung tâm này là một trong những bộ
tướng cũ của họ Khúc. Ông tích thảo dồn lương, chiêu mộ nghĩa
sĩ để chuẩn bị đại sự cho nước nhà.
19
Dương Đình Nghệ nuôi trong nhà 3000 nghĩa tử
(con nuôi), ngày đêm luyện tập võ nghệ, kiếm cung
cùng cách bố trí trận mạc. Ông dùng tình nghĩa để
chinh phục mọi người, chào đón những người nghĩa
hiệp, đồng thời tổ chức chặt chẽ đội ngũ để chuẩn bị
một trận quyết chiến với quân xâm lược Nam Hán.
20
Làng Ràng của Dương Đình
Nghệ trở thành nơi hội tụ anh hào.
Hào kiệt ở khắp nơi đều đem gia
tướng, nghĩa binh về tụ nghĩa dưới
cờ của Dương Đình Nghệ mong có
ngày đánh đuổi quân xâm lược giành
lại quyền tự chủ cho dân tộc mà họ
Khúc đã gầy dựng nên.
21
Trong số những người anh hùng đó có Đinh
Công Trứ, một Hào trưởng vùng Trương Châu
(Ninh Bình) đem gia thuộc đến tụ nghĩa. Ông
là người trung thực, khẳng khái và có tài thao
lược nên được Dương Đình Nghệ tin tưởng
giao cho đi trấn giữ Hoan châu.
22
Ngô Quyền đau xót trước cảnh bạo ngược của quân Nam Hán
cũng rong ruổi từ vùng Đường Lâm về theo Dương Đình Nghệ,
bạn đồng liêu của cha mình. Con người khôi ngô tuấn tú, giỏi võ
và có nhiều mưu lược này được Dương Đình Nghệ rất yêu mến
và nghĩa quân quí trọng.
23
Trong những bộ tướng của Dương Đình Nghệ có một người
mặt mày dữ tợn, râu quai nón tua tủa, dáng người cộc cằn, đôi
mắt trắng lộ rõ dã tâm. Đấy là Kiều Công Tiễn, một Hào trưởng
ở châu Phong. Kiều Công Tiễn theo Dương Đình Nghệ từ những
ngày đầu và có sức mạnh vô địch nên Dương Đình Nghệ tin tưởng
giao cho nhiều trọng trách.
24
Đêm rằm hàng tháng, trong doanh trại nghĩa quân thường mở
hội tỷ thí võ công để tranh tài cao thấp. Kiều thách Ngô Quyền thi
đấu với điều kiện ai thắng sẽ được hỏi Dương Nhi làm vợ. Đêm
hôm đó, dưới sự chứng kiến của Dương Đình Nghệ, Dương Nhi
và các anh hùng nghĩa sĩ, Kiều Công Tiễn đã ra những đòn độc tới
tấp để quyết hạ Ngô Quyền. Nhưng Ngô Quyền vẫn ung dung đón
đỡ và bằng một đòn gia truyền đã quật ngã và hạ gục đối phương.
25
Kiều Công Tiễn thấy Ngô Quyền mới
đến mà được Dương Đình Nghệ yêu mến
và các tướng sĩ nể phục thì đem lòng ganh
ghét và căm tức. Vả lại Kiều rất say mê
Dương Nhi, người con gái thùy mị nết na
và xinh đẹp của Dương Đình Nghệ, song
Dương Đình Nghệ mãi chưa chịu gả còn
Dương Nhi càng có ý quyến luyến với
Ngô Quyền.
26
Từ đó, Dương Đình Nghệ càng tin tưởng Ngô Quyền. Ông gả
con gái cho Ngô Quyền, giữ Ngô Quyền lại làm tướng lệnh dưới
trướng và cho chỉ huy một đội quân chủ lực.
27
Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, mặc dù được chúa Nam
Hán lấy lòng bằng cách giao cho coi giữ châu Ái, tháng 3 năm
931, Dương Đình Nghệ đã ồ ạt tiến quân ra Giao châu, bao vây
thành Đại La.
28
Dưới sự chỉ huy của Dương Đình Nghệ,
Ngô Quyền hô quân công phá thành dữ dội,
quân địch trong thành tan vỡ, tướng giặc Lương
Khắc Trinh bị giết chết trong đám loạn quân.
Tên thứ sử Lý Tiến theo đám tàn quân trốn
chạy về nước nhưng hắn cũng không thoát khỏi
cái chết nhục nhã: bị triều đình Nam Hán xử
tử vì tội hèn nhát.
29
30
Từ bên kia biên giới, triều đình Nam Hán vội vã sai Thừa chỉ
Trình Bảo đem quân sang nước ta cứu viện. Viện quân địch bao
vây lại thành Đại La để dồn ép và tiêu diệt quân ta. Nhưng Dương
Đình Nghệ và Ngô Quyền đã kịp thời chia quân làm hai cánh
xông ra ngoài thành đánh ép lại. Quân địch rối loạn, tan vỡ, tướng
Trình Bảo bị giết chết, đạo quân tiếp viện bị tiêu diệt hoàn toàn.
31
Thế là quân ta đại thắng, quân Nam Hán bị thất bại thảm hại.
Nước ta lại một lần nữa giành được quyền tự chủ, nhân dân được
tự do định đoạt vận mạng của mình. Cờ nghĩa lại bay phất phới
trên thành Đại La.
32
Dương Đình Nghệ, người anh hùng dân tộc, tự xưng là Tiết độ
sứ, đứng ra lãnh đạo đất nước. Ông cử Đinh Công Trứ làm thứ sử
Hoan châu và Ngô Quyền phụ trách Ái châu.
33
Ngô Quyền dẫn quân về trấn trị Ái châu, khoan hòa nhân ái,
giảm bớt thuế khóa, lực dịch; vừa chăm lo canh tác, vừa rèn luyện
quân lính để phòng khi hữu sự. Cả một vùng Ái châu rộng lớn đều
giữ vững an ninh, người người no đủ. Khắp nơi mọi người đều yêu
mến con người anh hùng và tài trí này.
34
Không bao lâu sau, tháng 4 năm 937, Kiều Công Tiễn với dã
tâm phản trắc có sẵn, đã giết chết Dương Đình Nghệ tự lập mình
lên làm Tiết độ sứ.
35
Ngô Quyền và các tướng sĩ ở Ái châu nghe tin đều tiếc thương
người anh hùng có công đánh đuổi quân Nam Hán giành quyền
tự chủ cho dân tộc kế tục xứng đáng sự nghiệp mà họ Khúc đã
tạo dựng. Ngô Quyền vừa là tướng vừa là con rể của Dương Đình
Nghệ nên không chỉ đau xót mà còn vô cùng tức giận. Ông cùng
các tướng sĩ ở Ái châu lập bàn hương án để tế Dương Đình Nghệ
và thề quyết trả mối hận thù này.
36
Kiều Công Tiễn sau khi mưu hại Dương Đình
Nghệ bị các Hào trưởng bất bình xa lánh, tướng
sĩ không phục, nhân dân căm ghét, lại sợ thế lực
của Ngô Quyền ở Ái châu nên đã đê hèn đầu hàng
và cầu cứu quân Nam Hán. Thế là từ việc làm bất
nghĩa, Kiều Công Tiễn đã trở thành tên bán nước.
37
Vua Nam Hán mừng rỡ cho đây là dịp tốt để xâm lược và nô
dịch nước ta lần thứ hai vừa để bành trướng thế lực vừa trả mối
hận thù năm xưa. Tin rằng với binh hùng tướng mạnh lại có lực
lượng nội ứng của Kiều Công Tiễn, thắng lợi chắc chắn sẽ nắm
trong tay, vua Nam Hán cho mở yến tiệc để ăn mừng và bàn việc
tiến binh.
38
Nhưng quan lại trong triều lại tỏ ra dè dặt, có người
khuyên vua Nam Hán nên thôi binh để dưỡng sức chờ
thời cơ. Có người như Sùng Văn hầu Tiêu Ích nói:
“Hiện nay mưa dầm hàng tuần mà đường biển thì hiểm
trở xa xôi. Ngô Quyền là người kiệt hiệt, chớ nên coi
thường. Đại quân đi nên cẩn thận, chắc chắn. Dùng
nhiều kẻ dẫn đường rồi sau hãy tính”.
39
Vua Nam Hán đích thân đề ra kế
hoạch tiến binh. Y phong cho con trai là
Lưu Hoằng Tháo làm Giao vương thống
lĩnh một đội thủy binh hùng mạnh vượt
biển, mượn tiếng giúp Kiều Công Tiễn
đánh Ngô Quyền song thực chất là xâm
lược nước ta.
40
Còn vua Nam Hán tự mình làm tướng soái dẫn một đội hậu
binh đông đảo, cờ xí rộn ràng đến đóng ở trấn Hải Môn (phía tây
nam huyện Bác Bạch, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) sát biên giới
nước ta để gây thanh thế và kịp thời chi viện khi cần thiết.
41
Lúc bấy giờ, Ngô Quyền trở thành ngọn cờ qui tụ mọi lực lượng
yêu nước. Bộ sử ca cổ thế kỷ XVII, Thiên Nam Ngữ Lục có ghi:
“Bảo nhau dắt trẻ phù già,
Bỏ chưng Công Tiễn về nhà Ngô Vương.
Dưới cờ cả bé khóc thương,
Nguyện xin trả nghĩa họ Dương cho tuyền.
Chúng tôi sức bé tài hèn,
Chồng nguyện quẩy vác, vợ nguyền đem cơm.
Giúp công quét sạch giang sơn,
Uyển thành chuyển chủ mới yên lòng hờn”.
42
Lòng dân ở các châu Ái, Hoan và cả ở châu
Giao Giao
đều hướng về theo Ngô Quyền. Các Hào trưởng
hùng mạnh và nổi tiếng như Lã Minh ở Liễu Chữ
(Thuận Thành, Bắc Ninh), Phạm Bạch Hổ ở Ngọc
Đường (Kim Động, Hưng Yên), Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ
Động (Thanh Oai, Hà Nội), Phạm Chiêm ở Nam Sách (Hải
Dương), Đinh Công Trứ ở Hoa Lư (Ninh Bình)... đều đem quân
về theo Ngô Quyền, quyết trừng phạt tên phản bội và phá tan quân
Nam Hán.
43
Đặc biệt, trong số này có Kiều Công Hãn là cháu của Kiều
Công Tiễn cũng căm tức hành vi phản bội của Tiễn, mang quân
về phía chính nghĩa của dân tộc. Ông được Ngô Quyền an ủi, tin
tưởng cho cùng các tướng bàn bạc việc quân.
44
Với kế hoạch trước trừ nội phản sau diệt ngoại xâm, sau một
thời gian chuẩn bị, vào đầu mùa đông năm 938, đạo quân của Ngô
Quyền lớp lớp vượt đèo Ba Dội tiến quân ra bắc tiến công thành
Đại La. Trước sức mạnh như vũ bão và lòng căm hờn sâu sắc của
dân quân, thành Đại La bị phá nhanh chóng.
45
Kiều Công Tiễn đêm ngày ngóng chờ quân Nam Hán không
ngờ lại phải “đón tiếp” quân của Ngô Quyền. Y hốt hoảng hô quân
chống đỡ. Nhưng chủ tướng không minh thì quân chẳng mấy hồi
mà rã, cuối cùng, Kiều Công Tiễn đã bị Ngô Quyền bắt sống.
46
Và tên bất nghĩa đối với chủ tướng, tên đầu hàng ngoại bang
phản bội lại dân tộc Kiều Công Tiễn đã bị đưa lên mặt thành chém
đầu. Nỗi oan của chủ tướng Dương Đình Nghệ đã được giải, mối
họa bên trong đã được trừ, lòng dân càng phấn khởi hướng về Ngô
Quyền nguyện cùng ông giết giặc.
47
Ngô Quyền họp các tướng tá bàn rằng: “Hoằng Tháo
là đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mệt mỏi,
lại nghe được tin Công Tiễn bị giết chết, không còn
người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức
còn mạnh, địch với quân mỏi mệt tất phá được. Song
chúng lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì
chuyện được thua chẳng thể biết được...”
48
 





