BẢN TIN
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
STN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:29' 13-12-2024
Dung lượng: 7.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:29' 13-12-2024
Dung lượng: 7.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chủ biên
TRẦN BẠCH ĐẰNG
Biên soạn
TÔN NỮ QUỲNH TRÂN
Họa sĩ
NGUYỄN ĐỨC HÒA
Tái bản lần thứ hai
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: NGUYỄN ĐỨC HÒA
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Nước Vạn Xuân / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ Đức
Hòa. - Tái bản lần 3. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
88 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.8).
1. Lý Bí (Lý Nam Đế), 503-548. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều Tiền Lý, 544-602 —
Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Lý Bí (Lý Nam Đế), 503-548. 2. Vietnam — History —Previous Ly, 544-602 —
Pictorial works.
959.7013 — dc 22
N973
LỜI GIỚI THIỆU
Dù có triều đại phương bắc nào cai trị nước ta thì chỉ là
thay thế sự tàn bạo này bằng sự tàn bạo khác và hình thức
bóc lột chỉ ngày càng hà khắc hơn thôi. Nhà Lương do Vũ
Lâm hầu Tiêu Tư làm Thứ sử Giao châu không ngừng vét
đầy túi tham, cai trị hà khắc, khiến cho người người, nhà
nhà đều oán hận.
Sau thất bại của khởi nghĩa Bà Triệu, phong trào đấu
tranh của nhân dân ta do các Hào trưởng lãnh đạo vẫn tiếp
tục nổ ra nhưng hầu hết đều bị dập tắt nhanh chóng. Chỉ
đến cuộc khởi nghĩa của Lý Bí năm 542 mới giành được
thắng lợi, giành được độc lập chủ quyền, xưng đế, gắn liền
với tên nước Vạn Xuân.
Tuy sự nghiệp độc lập do Lý Bí tạo dựng dù không truyền
được lâu dài như nhà Hậu Lý sau này nhưng vẫn có thể
coi là to lớn. Dù sự nghiệp của Lý Bí và sau này do Triệu
Quang Phục tuy không trọn vẹn những vẫn sống mãi trong
lòng nhân dân cùng tên nước Vạn Xuân.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 8 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Nước Vạn Xuân” phần
lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do
Nguyễn Đức Hòa thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 8 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Lý Bí ((503-548) là người có công đánh đuổi giặc đô hộ
nhà Lương, sáng lập nhà Tiền Lý, tự xưng là Nam Việt
đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, thường gọi là Lý Nam
đế, đặt tên nước ta là Vạn Xuân với mong muốn xã tắc
dài lâu đến muôn đời.
Triệu Việt Vương kế tục sự nghiệp của vua Lý Nam Đế,
đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập
cho nước nhà. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử đánh úp,
thua trận và tự vẫn nơi cửa sông Đáy.
Sau khi cuộc khởi nghĩa của bà Triệu Thị Trinh cùng anh là
Triệu Quốc Đạt bị thất bại, dân Việt lại rơi vào cảnh nô lệ. Từ đó
cho đến gần ba trăm năm sau, bọn quan lại đô hộ tha hồ vơ vét
bóc lột, cưỡng bức dân chúng lên rừng tìm quế tìm trầm, xuống
bể mò ngọc trai cung cấp ngọc quý cho chúng.
5
Không những thế, dân Việt còn phải chịu tai họa chiến tranh
vì bấy giờ nhà Ngô lại đánh nhau với Lâm Ấp (Chiêm Thành sau
này). Lâm Ấp nằm kế dưới phía Nam của đất Việt, do Khu Liên
tạo dựng từ cuối thế kỷ thứ II, đến nay đã trở nên một quốc gia
cường thịnh, thường hay cho quân sang Giao châu để tấn công
quân Ngô. Vì thế, cuộc sống của dân Việt vô cùng bất an.
6
Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, việc thay vua đổi chúa xảy ra liên tiếp.
Đất Giao châu bị chuyển từ nhà Ngô sang nhà Tấn, rồi Tống, Tề,
Lương. Việc này cũng ảnh hưởng đến nội tình Giao châu vì các
quan lại đô hộ, kẻ theo phe này, người theo phe kia, chia quân ra
đánh nhau không ngớt.
7
Nhà Lương cai trị Giao châu vào đầu thế kỷ thứ sáu. Để thu
vét thêm được nhiều thuế, nhà Lương cắt đất Giao châu ra và
đặt thêm nhiều châu huyện. Đó là Ái châu (vùng Thanh Hóa
ngày nay), Đức châu, Lợi châu (hai châu này tương ứng với
vùng Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), Minh châu (Quảng Ninh),
còn Giao châu thì có diện tích thu hẹp lại trên đồng bằng và
trung du Bắc bộ.
8
Thời kỳ này, đạo Phật ở nước ta đã phát triển mạnh. Sử chép
rằng: “Xứ Giao châu có đường thông sang Thiên Trúc. Phật giáo
vào Trung Quốc chưa phổ cập đến miền Giang Đông mà xứ ấy đã
xây dựng ở Luy Lâu(*) hơn hai mươi ngọn bảo tháp, độ được hơn
500 tăng ni và dịch được hơn mười lăm bộ kinh rồi”(**).
* Luy Lâu nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
** Lời của Đàm Thiên, thiền sư Trung Quốc thế kỷ thứ VI.
9
Nhà Lương có chính sách chỉ trọng dụng người họ Tiêu là họ
của nhà Lương và một số dòng họ lớn khác. Phải là người thuộc
các dòng họ ấy mới được giữ các chức vụ quan trọng mà thôi.
Thứ sử Giao châu lúc bấy giờ là Tiêu Tư, tước Vũ Lâm hầu, cùng
họ với vua nhà Lương.
10
Tiêu Tư lại là người tham tàn nên đã áp dụng một chế độ thu
thuế rất ác nghiệt. Có được một cây dâu cao một thước là người
dân cũng phải đóng thuế. Thậm chí quá nghèo khổ mà phải bán
vợ đợ con cũng phải đóng thuế. Nhân dân vô cùng phẫn uất.
11
Bấy giờ ở huyện Thái Bình (nằm ven sông Hồng thuộc xã Sơn
Tây, không phải là tỉnh Thái Bình ngày nay) có một Hào trưởng
tên là Lý Bí (có sách chép là Lý Bôn), thiên tư thông tuệ, văn võ
toàn tài. Nghe tiếng, nhà Lương vời Lý Bí làm quan. Nghĩ rằng
có thể giúp đỡ được dân chúng nên Lý Bí nhận lời.
(*) Có ý kiến cho rằng Thái Bình thuộc xã Tiên Phong huyện Phổ Yên,
Thái Nguyên.
12
Lý Bí được giao giữ một chức quan nhỏ coi việc quân ở Đức
châu. Với chức quan ấy, ông cố gắng giúp đỡ những ai bị hà hiếp.
Nhưng sau một thời gian, thân cô thế cô, ông không làm nên được
việc gì đáng kể. Thêm vào đó, hàng ngày ông lại phải chứng kiến
sự tham bạo của quân đô hộ cùng cảnh khổ của dân chúng. Lý Bí
quyết từ quan ra đi tìm kế sách khác.
13
Lý Bí trở về lại quê nhà, bàn bạc cùng anh là Lý Thiên Bảo
mưu khởi nghĩa. Ông còn hô hào dân làng cùng dấn thân vào đại
nghĩa. Vốn là một Hào trưởng thương dân, nên Lý Bí được dân
làng ủng hộ ngay. Ông bèn chiêu hiền nạp sĩ. Ông lại đem tất cả
của cải ra mua lương thực tích trữ cho việc quân. Hào kiệt khắp
nơi nghe tin kéo về đầu quân rất đông.
14
Trong số hào kiệt có những người nổi bật như Tinh Thiều,
Triệu Túc, Triệu Quang Phục, Phạm Tu, Lý Phục Man, Trình Đô
Tâm Cô...
Triệu Túc vốn là tù trưởng ở huyện Chu Diên (bây giờ là vùng
Đan Phượng - Từ Liêm, thuộc Hà Nội). Con trai của ông là Triệu
Quang Phục tuy còn trẻ nhưng đã nổi tiếng là người có sức mạnh
và giỏi võ nghệ).
15
Một hôm, sau một chuyến đi xa trở về, Triệu Quang Phục tìm
gặp ngay cha và cho biết:
- Cha ơi, ở vùng Thái Bình ven sông Hồng có Lý Bí đang chiêu
binh mãi mã để nổi lên đánh quân Lương. Con muốn theo về.
Triệu Túc tán thành ngay:
- Đúng đấy con ạ, ta cũng theo về. không thể nào làm nô lệ mãi.
16
Thế là Triệu Túc cùng con tập hợp quân lính dưới trướng và
lên đường. Họ nhắm hướng sông Hồng trực chỉ rồi đi men ngược
dòng để tìm đến Thái Bình và ra mắt Lý Bí. Họ là những hào kiệt
đầu tiên từ xa xôi đến đầu quân. Lý Bí vô cùng mừng rỡ tiếp nhận:
- Có hai cha con dũng sĩ đem quân bản bộ theo về thì nước non
có ngày thấy được mặt trời.
17
Nhân vật tiếp theo là Tinh Thiều. Vốn nổi tiếng tài giỏi, Tinh
Thiều đã từng muốn thi thố với đời nên có dự thi một đợt tuyển
quan. Tuy văn bài ông xuất sắc nhưng nhà Lương thấy ông không
phải là con nhà vọng tộc cao sang nên chỉ giao việc gác cửa.
Tinh Thiều thấy thế lấy làm xấu hổ, bỏ đi không nhận rồi tìm đến
Lý Bí tham gia khởi nghĩa.
18
Ngoài ra còn có lão tướng Phạm Tu tuổi tuy đã ngoài 60 nhưng
sức khỏe hơn người, võ nghệ tinh thông. Ông tay không đánh được
cọp, nhảy qua nóc nhà nhẹ nhàng, tên bay bắt được trăm lần không
sai. Không nề hà việc đứng dưới cờ của một người trẻ tuổi hơn,
ông hăng hái tham gia và được Lý Bí vô cùng nể trọng. Với kinh
nghiệm của con người từng trải, Phạm Tu đã giúp đỡ rất nhiều
cho Lý Bí trong việc phát triển lực lượng của kháng chiến quân
cùng việc phân bố, sắp xếp quân ngũ.
19
Trình Đô và Tam Cô là hai chàng trẻ tuổi, vốn là anh em cô
cậu. Tam Cô mồ côi sớm, về nương náu bên gia đình Trình Đô. Vì
thế cả hai cùng lớn lên trong cùng một nhà và thương quí nhau vô
cùng. Họ siêng năng học hỏi và đến năm 16 tuổi thì văn võ toàn
tài. Không bao lâu cha mẹ Trình Đô qua đời. Chịu tang xong, họ
hăng hái gia nhập quân khởi nghĩa. Sức trẻ của họ hòa nhập vào
kinh nghiệm của các lão tướng làm cho lực lượng kháng chiến
ngày càng khởi sắc.
20
Lý Bí đóng một doanh trại quan trọng tại hai thôn Lưu Xá và
Giang Xa(*) cách Long Biên về phía tây không bao xa. Doanh trại
này được tổ chức rất chu đáo. Một trạm tiền tiêu, gọi là gò Mũi
Mác, được bố trí ở đầu thôn, chặn mọi ngả vào. Một trạm thông
tin được đặt trên gò Trống Khẩu, là một đồi cao, có thể từ đó quan
sát mọi diễn biến trên con đường huyết mạch dẫn vào Long Biên.
* Lưu Xá còn gọi là Lưu Trôi, Giang Xá là Giang Trôi, ngày nay Lưu Xá
thuộc xã Đức Giang, Giang Xá là thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức,
Hà Nội.
21
Dân hai làng Trôi và dân quanh vùng nô nức gia nhập nghĩa
quân. Tại đây, Lý Bí tiếp nhận thêm được 3000 quân thiện chiến.
Riêng hai chàng trẻ tuổi Trình Đô và Tam Cô thì đóng tại làng
Xuân Đề(*) án ngữ cho doanh trại tại Lưu Giang, đối mặt với
Long Biên. Họ tổ chức các cuộc đô vật để tuyển quân và chọn
được 33 chàng dũng sĩ đô vật, xuất thân từ các làng vật cổ truyền.
* Hiện nay là hai thôn Yên Vinh và Yên Bệ thuộc xã Kim Chung, huyện
Hoài Đức.
22
Mùa xuân năm Nhâm Tuất (542), vào ngày 10 tháng 3 âm lịch,
Lý Bí hội quân tướng tại trước chùa Linh Bảo, ngay giữa làng
Giang Xá, quyết định phất cờ tiến quân:
- Hỡi chư tướng! Lực lượng của ta nay đã mạnh, lương thực đã
đầy đủ, nhân dân nóng lòng mong chờ ngày đuổi được giặc Lương
ra khỏi bờ cõi. Đây là lúc ta tiến lên phá tan thành lũy của chúng.
23
Cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Từ chùa Linh Bảo, đoàn nghĩa quân
xuất phát, đánh đến đâu được dân chúng ủng hộ đến đấy. Thế tiến
công như chẻ tre nên chỉ trong vòng ba tháng nghĩa quân đã
chiếm hầu hết các quận huyện. Quân Lương co cụm rút về thành
Long Biên. Lý Bí bèn cho quân tiến vây thành Long Biên.
24
25
Nằm trong vòng vây trùng điệp của nghĩa quân, Tiêu Tư vô
cùng khiếp sợ. Hắn chỉ giữ thế thủ, không dám xua quân ra chống
cự dù hàng ngày quân của Lý Bí tiến công áp sát chân thành.
Tiêu Tư bèn vội vàng một mặt cho người đem vàng bạc đến trước
quân thứ của Lý Bí cầu xin tha tội chết, một mặt tìm cách trốn
về nước.
26
Sau nhiều ngày công kích quyết liệt, nghĩa quân phá vỡ được
thành. Quân Lương vội vã đầu hàng còn Tiêu Tư thừa cơ hội
lộn xộn đã trốn thoát chạy về Quảng Châu (Trung Quốc). Lý Bí
vào thành vỗ an dân chúng và tha chết cho quân Lương về nước.
Ông cùng các tướng sĩ lo ổn định lại tình hình trong nước cũng
như chuẩn bị đối phó sự phản công của nhà Lương.
27
Được tin thành Long Biên thất thủ, vua nhà Lương lập tức cho
tập hợp quân lính sẵn sàng kéo quân sang xâm lược lại đất Việt.
Đầu năm 543, hai Thứ sử là Lư Tử Hùng và Tôn Quýnh được lệnh
cầm đầu toán quân này. Bấy giờ là cuối đông, Giao châu đang đổi
mùa, thời tiết rét và ẩm làm cho quân Lương bệnh hoạn liên
miên. Vì thế Tử Hùng xin với vua Lương cho đợi đến cuối xuân
ấm áp sẽ tiến quân.
28
Tiêu Tư đang nương náu ở Quảng Châu, nghe tin, liền xúi dục
Thứ sử Quảng Châu là Tiêu Ánh không đồng ý hoãn binh. Tiêu Ánh
nghe lời, tâu với vua Lương cho lệnh xuất quân ngay. Bọn Lư Tử
Hùng bắt buộc phải tuân theo. Quân kéo đến Hợp Phố liền bị
Lý Bí chận đánh tan tác. Quân Lương mười phần bị giết chết đến
bảy, tám. Đám tàn quân phải lui về Quảng Châu.
29
Tiêu Tư vu tấu với vua nhà Lương rằng: Tử Hùng và Tôn
Quýnh thông mưu với Lý Bí nên đã dùng dằng không chịu tiến
quân.
Vua Lương tức giận, bắt tội hai tướng ấy phải chết. Lư Tử Hùng
và Tôn Quýnh đành tự tử chết ở Quảng Châu.
30
Sau khi đánh thắng quân Lương ở Hợp Phố, Lý Bí lại phải lo
đối phó với cuộc xâm lấn của vương quốc Lâm Ấp ở phía nam.
Quốc vương Lâm Ấp nhân cơ hội quân Lương và nghĩa quân đang
tương tranh ở mạn bắc, đã thân hành dẫn quân vào Đức châu đánh
phá. Lý Bí phải chia binh, cho lão tướng Phạm Tu mang quân
xuống phía nam đánh tan được quân Lâm Ấp, đuổi quốc vương
Lâm Ấp phải chạy về nước.
31
Cuộc khởi nghĩa của dân Việt hoàn toàn thắng lợi, đất nước
giành lại quyền độc lập. Mùa xuân năm 544, Lý Bí lên ngôi, xưng
là Lý Nam Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức. Vua đặt tên nước là
Vạn Xuân. Vua nói với các quan:
- Ta gọi tên nước là Vạn Xuân vì muốn xã tắc sơn hà luôn tươi
thắm như mùa xuân và trường tồn cho đến muôn đời sau.
32
33
Lý Nam Đế đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội) và
cho dựng điện Vạn Xuân để làm nơi vua quan hội họp bàn việc
nước. Triều đình gồm có hai ban văn võ. Triệu Túc làm Thái phó,
là trụ cột của triều đình, Tinh Thiều làm Tể tướng đứng đầu hàng
ngũ quan văn, Phạm Tu làm Tướng quân đứng đầu các quan võ,
Triệu Quang Phục làm Tả tướng quân.
34
Chùa Trấn Quốc ngày nay.
Để đánh dấu việc lập nước, Lý Nam Đế cho xây một ngôi chùa
lớn nằm bên bờ sông Hồng và đặt tên là Khai Quốc (mở nước).
Ngôi chùa này sau trở thành trung tâm Phật giáo lớn của nước ta. Đến
đời nhà Lê thì bãi sông ấy bị lở. Dân chúng bèn dỡ chùa dời vào
hòn đảo Cá Vàng ở giữa hồ Tây và đổi tên là chùa Trấn Quốc (giữ
nước). Hiện nay, chùa Trấn Quốc, tượng trưng cho nước Vạn Xuân
xưa vẫn còn và đã trở thành một nơi danh thắng của thủ đô Hà Nội.
35
Thấy thuộc quốc của mình trở
nên một vương quốc độc lập và
đang xây dựng cuộc sống riêng,
vua quan nhà Lương không thể
nào chấp nhận được. Cùng năm
với Lý Nam Đế lên ngôi vua, nhà
Lương sai Tả vệ tướng quân là
Lan Khâm kéo quân sang đánh.
Nhưng Lan Khâm chỉ mới kéo
quân qua khỏi núi Ngũ Lĩnh thì
nhuốm bệnh mà chết. Quân sĩ lại
lục tục quay trở về.
36
Tuy thế, nhà Lương vẫn không từ bỏ ý đồ xâm lược. Năm
sau, vào tháng 5 vua nhà Lương lại phong cho một thuộc tướng
là Dương Phiêu làm Thứ sử Giao châu, bên cạnh Dương Phiêu là
danh tướng Trần Bá Tiên làm Tư mã(*). Vua Lương còn sai một
thứ sử khác là Tiêu Bột hợp quân cùng Dương Phiêu.
* Trần Bá Tiên sau này cướp ngôi nhà Lương và trở thành vua Cao Tổ của
nhà Trần - Trung Quốc.
37
Tiêu Bột biết tướng sĩ của mình sợ đi xa, nên lần lữa giữ chân
Dương Phiêu lại. Trần Bá Tiên là người hiếu chiến luôn luôn thúc
dục Dương Phiêu tiến quân. Bá Tiên nói rằng:
- Quan Thứ sử Tiêu Bột muốn lẩn lút tạm yên là không muốn
ngó việc lớn ở trước mắt. Còn như túc hạ vâng lời vua đi đánh kẻ
có tội (tức Lý Nam Đế), há dùng dằng không tiến, lệnh vua ban
xuống, sống chết không biết ra sao. Lại có tội để cho quân giặc
lớn thêm và quân mình nản chí ư?
38
Thúc dục xong, Trần Bá Tiên trở về trại của mình hạ lệnh
xuất quân, không thèm đợi lệnh của Dương Phiêu, Dương Phiêu
đành phải nghe theo. Hắn phong cho Bá Tiên làm tiên phong và
chia quân làm hai đạo thủy, bộ cùng phối hợp tiến vào đất nước
Vạn Xuân non trẻ. Quân của chúng đi đến đâu cướp bóc đến đấy.
Chúng đốt nhà, chiếm trâu, bò, gà của dân chúng làm lương ăn.
39
Lý Nam Đế vội vàng đem ba vạn quân ra chống giặc ở vùng
Lục Đầu (Hải Dương), nhưng không cản được sức tiến công ào ạt
của đại quân Lương. Nhà vua đành phải cho quân lui về giữ thành
ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Quân của nhà vua tuy dũng cảm
chiến đấu nhưng số lợng ít ỏi, chỉ co cụm cố thủ trong thành.
Còn thành thì lại rất sơ sài, chỉ bằng tre gỗ và đất đắp qua loa
mà quân Lương lại công thành như vũ bão.
40
Hai vị tướng trẻ Trình Đô và Tam Cô đem quân chận địch trên
sông Tô Lịch. Những trận thủy chiến ác liệt xảy ra. Vào mùa hạ
năm Ất Sửu (545), quân Lương dựa thế nước dâng cao, bất ngờ
tấn công thủy binh của hai tướng. Quân sĩ hy sinh không còn ai
và lại bị vây khốn. Để không sa vào tay kẻ thù, Trình Đô và
Tam Cô để nguyên áo giáp, nhảy xuống sông trầm mình (ngày 15
tháng 6 âm lịch). Người đời sau tôn hai vị tướng làm Hộ quốc và
thờ ở đình Xuân Đề.
41
Mặt trận trên bờ cũng không kém phần ác liệt. Lão tướng
Phạm Tu ra sức chỉ huy quân lính chống cự trong làn tên mũi
đạn, cố giữ từng đoạn thành mong manh. Nhưng rồi, quân Vạn
Xuân không giữ được lâu. Thành vỡ, quân Lương ùa vào chém
giết tơi bời. Trước bầy lang sói đông đúc, lão tướng Phạm Tu ngã
gục, thân mình bị hàng chục mũi giáo xuyên qua. Đó là ngày
20 tháng Bảy năm Ất Sửu (545). Người đời sau thờ lão tướng
tại đền Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
42
Còn lại Tả tướng quân Triệu Quang Phục cùng cha là Triệu Túc
bảo vệ được Lý Nam Đế thoát khỏi đám loạn quân. Vua cùng các
tướng chạy ngược sông Hồng đến thành Gia Ninh(*). Quân Lương
đuổi theo áp sát và tiến hành vây thành. Đến đầu năm 546, thành
Gia Ninh thất thủ. Quân Lương cho đóng đồn ở cửa sông để
bảo vệ thành.
* Thành Gia Ninh nguyên là đất huyện Mê Linh, đến đời nhà Ngô cai trị thì
đất tên là Gia Ninh, nay là thành phố Việt Trì, Phú Thọ.
43
Lý Nam Đế cùng các tướng sĩ chạy vào miền núi rừng Vĩnh Phú.
Tại đây, nhà vua không những được sự ủng hộ của dân chúng
người Việt mà còn cả dân của các bộ tộc ít người nữa. Vì thế,
lực lượng của nhà vua tăng lên đáng kể. Quân số lên tới vài vạn
người. Giữa năm 546, nhà vua đem hai vạn quân ra thao luyện ở
hồ Điển Triệt.
44
Hồ Điển Triệt còn có tên Nôm là đầm Miêng, nay thuộc xã Tứ
Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Bạch Hạc khoảng
15km. Đầm nằm bên bờ sông Lô, ba mặt Tây, Nam, Đông được
các dải đồi cao che phủ, chỉ có mặt Bắc là một con ngòi chảy
ngang qua cánh đồng trũng thông với sông Lô. Đó là con đường
độc đạo đi vào hồ.
45
Hàng ngày Lý Nam Đế lên quả đồi cao nhất để quan sát địch
tình ở cửa sông Lô. Quả đồi ấy sau được mang tên là đồi Vua Ngự.
Nhà vua đôn đốc quân lính lên rừng đốn cây đẽo thuyền độc mộc
và cho quân tập trận thường xuyên. Số thuyền đóng được ngày
càng nhiều, mỗi khi thao luyện, trên mặt hồ san sát đầy chật
thuyền bè.
46
Trần Bá Tiên dò biết lực lượng của Lý Nam Đế đang hồi phục,
vội vã cho quân tấn công ngay để ngăn chặn sức lớn mạnh của
nghĩa quân. Hắn cho quân từ thành Gia Ninh kéo ra, ngược dòng
sông Lô định xâm nhập vào hồ Điển Triệt nhưng quân Vạn Xuân
cản phá kịch liệt. Trần Bá Tiên phải cho quân dừng ở cửa hồ, đóng
trại ngay trên cánh đồng trũng.
47
Quân Lương mỏi mệt, các tướng thì chán nản nhưng Trần Bá
Tiên là một tay đa mưu túc trí. Hắn hăng hái động viên:
- Quân ta đã mỏi mệt mà không có cứu viện, nay ta lại vào
chốn tâm phúc người ta, nếu đánh mà không được, thì không có
đường sống mà về! Nhưng quân họ lâu nay thua luôn, nhân tính
chưa bền, chính là lúc ta phải đem một trăm phần chết cố sức đánh
lấy; chứ vô cố mà đình lại thì hỏng việc mất.
Các tướng nghe nói đều nín lặng.
48
TRẦN BẠCH ĐẰNG
Biên soạn
TÔN NỮ QUỲNH TRÂN
Họa sĩ
NGUYỄN ĐỨC HÒA
Tái bản lần thứ hai
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: NGUYỄN ĐỨC HÒA
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Nước Vạn Xuân / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ Đức
Hòa. - Tái bản lần 3. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
88 tr. : minh họa ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.8).
1. Lý Bí (Lý Nam Đế), 503-548. 2. Việt Nam — Lịch sử — Triều Tiền Lý, 544-602 —
Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Lý Bí (Lý Nam Đế), 503-548. 2. Vietnam — History —Previous Ly, 544-602 —
Pictorial works.
959.7013 — dc 22
N973
LỜI GIỚI THIỆU
Dù có triều đại phương bắc nào cai trị nước ta thì chỉ là
thay thế sự tàn bạo này bằng sự tàn bạo khác và hình thức
bóc lột chỉ ngày càng hà khắc hơn thôi. Nhà Lương do Vũ
Lâm hầu Tiêu Tư làm Thứ sử Giao châu không ngừng vét
đầy túi tham, cai trị hà khắc, khiến cho người người, nhà
nhà đều oán hận.
Sau thất bại của khởi nghĩa Bà Triệu, phong trào đấu
tranh của nhân dân ta do các Hào trưởng lãnh đạo vẫn tiếp
tục nổ ra nhưng hầu hết đều bị dập tắt nhanh chóng. Chỉ
đến cuộc khởi nghĩa của Lý Bí năm 542 mới giành được
thắng lợi, giành được độc lập chủ quyền, xưng đế, gắn liền
với tên nước Vạn Xuân.
Tuy sự nghiệp độc lập do Lý Bí tạo dựng dù không truyền
được lâu dài như nhà Hậu Lý sau này nhưng vẫn có thể
coi là to lớn. Dù sự nghiệp của Lý Bí và sau này do Triệu
Quang Phục tuy không trọn vẹn những vẫn sống mãi trong
lòng nhân dân cùng tên nước Vạn Xuân.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 8 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Nước Vạn Xuân” phần
lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do
Nguyễn Đức Hòa thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 8 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Lý Bí ((503-548) là người có công đánh đuổi giặc đô hộ
nhà Lương, sáng lập nhà Tiền Lý, tự xưng là Nam Việt
đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, thường gọi là Lý Nam
đế, đặt tên nước ta là Vạn Xuân với mong muốn xã tắc
dài lâu đến muôn đời.
Triệu Việt Vương kế tục sự nghiệp của vua Lý Nam Đế,
đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập
cho nước nhà. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử đánh úp,
thua trận và tự vẫn nơi cửa sông Đáy.
Sau khi cuộc khởi nghĩa của bà Triệu Thị Trinh cùng anh là
Triệu Quốc Đạt bị thất bại, dân Việt lại rơi vào cảnh nô lệ. Từ đó
cho đến gần ba trăm năm sau, bọn quan lại đô hộ tha hồ vơ vét
bóc lột, cưỡng bức dân chúng lên rừng tìm quế tìm trầm, xuống
bể mò ngọc trai cung cấp ngọc quý cho chúng.
5
Không những thế, dân Việt còn phải chịu tai họa chiến tranh
vì bấy giờ nhà Ngô lại đánh nhau với Lâm Ấp (Chiêm Thành sau
này). Lâm Ấp nằm kế dưới phía Nam của đất Việt, do Khu Liên
tạo dựng từ cuối thế kỷ thứ II, đến nay đã trở nên một quốc gia
cường thịnh, thường hay cho quân sang Giao châu để tấn công
quân Ngô. Vì thế, cuộc sống của dân Việt vô cùng bất an.
6
Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, việc thay vua đổi chúa xảy ra liên tiếp.
Đất Giao châu bị chuyển từ nhà Ngô sang nhà Tấn, rồi Tống, Tề,
Lương. Việc này cũng ảnh hưởng đến nội tình Giao châu vì các
quan lại đô hộ, kẻ theo phe này, người theo phe kia, chia quân ra
đánh nhau không ngớt.
7
Nhà Lương cai trị Giao châu vào đầu thế kỷ thứ sáu. Để thu
vét thêm được nhiều thuế, nhà Lương cắt đất Giao châu ra và
đặt thêm nhiều châu huyện. Đó là Ái châu (vùng Thanh Hóa
ngày nay), Đức châu, Lợi châu (hai châu này tương ứng với
vùng Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), Minh châu (Quảng Ninh),
còn Giao châu thì có diện tích thu hẹp lại trên đồng bằng và
trung du Bắc bộ.
8
Thời kỳ này, đạo Phật ở nước ta đã phát triển mạnh. Sử chép
rằng: “Xứ Giao châu có đường thông sang Thiên Trúc. Phật giáo
vào Trung Quốc chưa phổ cập đến miền Giang Đông mà xứ ấy đã
xây dựng ở Luy Lâu(*) hơn hai mươi ngọn bảo tháp, độ được hơn
500 tăng ni và dịch được hơn mười lăm bộ kinh rồi”(**).
* Luy Lâu nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
** Lời của Đàm Thiên, thiền sư Trung Quốc thế kỷ thứ VI.
9
Nhà Lương có chính sách chỉ trọng dụng người họ Tiêu là họ
của nhà Lương và một số dòng họ lớn khác. Phải là người thuộc
các dòng họ ấy mới được giữ các chức vụ quan trọng mà thôi.
Thứ sử Giao châu lúc bấy giờ là Tiêu Tư, tước Vũ Lâm hầu, cùng
họ với vua nhà Lương.
10
Tiêu Tư lại là người tham tàn nên đã áp dụng một chế độ thu
thuế rất ác nghiệt. Có được một cây dâu cao một thước là người
dân cũng phải đóng thuế. Thậm chí quá nghèo khổ mà phải bán
vợ đợ con cũng phải đóng thuế. Nhân dân vô cùng phẫn uất.
11
Bấy giờ ở huyện Thái Bình (nằm ven sông Hồng thuộc xã Sơn
Tây, không phải là tỉnh Thái Bình ngày nay) có một Hào trưởng
tên là Lý Bí (có sách chép là Lý Bôn), thiên tư thông tuệ, văn võ
toàn tài. Nghe tiếng, nhà Lương vời Lý Bí làm quan. Nghĩ rằng
có thể giúp đỡ được dân chúng nên Lý Bí nhận lời.
(*) Có ý kiến cho rằng Thái Bình thuộc xã Tiên Phong huyện Phổ Yên,
Thái Nguyên.
12
Lý Bí được giao giữ một chức quan nhỏ coi việc quân ở Đức
châu. Với chức quan ấy, ông cố gắng giúp đỡ những ai bị hà hiếp.
Nhưng sau một thời gian, thân cô thế cô, ông không làm nên được
việc gì đáng kể. Thêm vào đó, hàng ngày ông lại phải chứng kiến
sự tham bạo của quân đô hộ cùng cảnh khổ của dân chúng. Lý Bí
quyết từ quan ra đi tìm kế sách khác.
13
Lý Bí trở về lại quê nhà, bàn bạc cùng anh là Lý Thiên Bảo
mưu khởi nghĩa. Ông còn hô hào dân làng cùng dấn thân vào đại
nghĩa. Vốn là một Hào trưởng thương dân, nên Lý Bí được dân
làng ủng hộ ngay. Ông bèn chiêu hiền nạp sĩ. Ông lại đem tất cả
của cải ra mua lương thực tích trữ cho việc quân. Hào kiệt khắp
nơi nghe tin kéo về đầu quân rất đông.
14
Trong số hào kiệt có những người nổi bật như Tinh Thiều,
Triệu Túc, Triệu Quang Phục, Phạm Tu, Lý Phục Man, Trình Đô
Tâm Cô...
Triệu Túc vốn là tù trưởng ở huyện Chu Diên (bây giờ là vùng
Đan Phượng - Từ Liêm, thuộc Hà Nội). Con trai của ông là Triệu
Quang Phục tuy còn trẻ nhưng đã nổi tiếng là người có sức mạnh
và giỏi võ nghệ).
15
Một hôm, sau một chuyến đi xa trở về, Triệu Quang Phục tìm
gặp ngay cha và cho biết:
- Cha ơi, ở vùng Thái Bình ven sông Hồng có Lý Bí đang chiêu
binh mãi mã để nổi lên đánh quân Lương. Con muốn theo về.
Triệu Túc tán thành ngay:
- Đúng đấy con ạ, ta cũng theo về. không thể nào làm nô lệ mãi.
16
Thế là Triệu Túc cùng con tập hợp quân lính dưới trướng và
lên đường. Họ nhắm hướng sông Hồng trực chỉ rồi đi men ngược
dòng để tìm đến Thái Bình và ra mắt Lý Bí. Họ là những hào kiệt
đầu tiên từ xa xôi đến đầu quân. Lý Bí vô cùng mừng rỡ tiếp nhận:
- Có hai cha con dũng sĩ đem quân bản bộ theo về thì nước non
có ngày thấy được mặt trời.
17
Nhân vật tiếp theo là Tinh Thiều. Vốn nổi tiếng tài giỏi, Tinh
Thiều đã từng muốn thi thố với đời nên có dự thi một đợt tuyển
quan. Tuy văn bài ông xuất sắc nhưng nhà Lương thấy ông không
phải là con nhà vọng tộc cao sang nên chỉ giao việc gác cửa.
Tinh Thiều thấy thế lấy làm xấu hổ, bỏ đi không nhận rồi tìm đến
Lý Bí tham gia khởi nghĩa.
18
Ngoài ra còn có lão tướng Phạm Tu tuổi tuy đã ngoài 60 nhưng
sức khỏe hơn người, võ nghệ tinh thông. Ông tay không đánh được
cọp, nhảy qua nóc nhà nhẹ nhàng, tên bay bắt được trăm lần không
sai. Không nề hà việc đứng dưới cờ của một người trẻ tuổi hơn,
ông hăng hái tham gia và được Lý Bí vô cùng nể trọng. Với kinh
nghiệm của con người từng trải, Phạm Tu đã giúp đỡ rất nhiều
cho Lý Bí trong việc phát triển lực lượng của kháng chiến quân
cùng việc phân bố, sắp xếp quân ngũ.
19
Trình Đô và Tam Cô là hai chàng trẻ tuổi, vốn là anh em cô
cậu. Tam Cô mồ côi sớm, về nương náu bên gia đình Trình Đô. Vì
thế cả hai cùng lớn lên trong cùng một nhà và thương quí nhau vô
cùng. Họ siêng năng học hỏi và đến năm 16 tuổi thì văn võ toàn
tài. Không bao lâu cha mẹ Trình Đô qua đời. Chịu tang xong, họ
hăng hái gia nhập quân khởi nghĩa. Sức trẻ của họ hòa nhập vào
kinh nghiệm của các lão tướng làm cho lực lượng kháng chiến
ngày càng khởi sắc.
20
Lý Bí đóng một doanh trại quan trọng tại hai thôn Lưu Xá và
Giang Xa(*) cách Long Biên về phía tây không bao xa. Doanh trại
này được tổ chức rất chu đáo. Một trạm tiền tiêu, gọi là gò Mũi
Mác, được bố trí ở đầu thôn, chặn mọi ngả vào. Một trạm thông
tin được đặt trên gò Trống Khẩu, là một đồi cao, có thể từ đó quan
sát mọi diễn biến trên con đường huyết mạch dẫn vào Long Biên.
* Lưu Xá còn gọi là Lưu Trôi, Giang Xá là Giang Trôi, ngày nay Lưu Xá
thuộc xã Đức Giang, Giang Xá là thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức,
Hà Nội.
21
Dân hai làng Trôi và dân quanh vùng nô nức gia nhập nghĩa
quân. Tại đây, Lý Bí tiếp nhận thêm được 3000 quân thiện chiến.
Riêng hai chàng trẻ tuổi Trình Đô và Tam Cô thì đóng tại làng
Xuân Đề(*) án ngữ cho doanh trại tại Lưu Giang, đối mặt với
Long Biên. Họ tổ chức các cuộc đô vật để tuyển quân và chọn
được 33 chàng dũng sĩ đô vật, xuất thân từ các làng vật cổ truyền.
* Hiện nay là hai thôn Yên Vinh và Yên Bệ thuộc xã Kim Chung, huyện
Hoài Đức.
22
Mùa xuân năm Nhâm Tuất (542), vào ngày 10 tháng 3 âm lịch,
Lý Bí hội quân tướng tại trước chùa Linh Bảo, ngay giữa làng
Giang Xá, quyết định phất cờ tiến quân:
- Hỡi chư tướng! Lực lượng của ta nay đã mạnh, lương thực đã
đầy đủ, nhân dân nóng lòng mong chờ ngày đuổi được giặc Lương
ra khỏi bờ cõi. Đây là lúc ta tiến lên phá tan thành lũy của chúng.
23
Cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Từ chùa Linh Bảo, đoàn nghĩa quân
xuất phát, đánh đến đâu được dân chúng ủng hộ đến đấy. Thế tiến
công như chẻ tre nên chỉ trong vòng ba tháng nghĩa quân đã
chiếm hầu hết các quận huyện. Quân Lương co cụm rút về thành
Long Biên. Lý Bí bèn cho quân tiến vây thành Long Biên.
24
25
Nằm trong vòng vây trùng điệp của nghĩa quân, Tiêu Tư vô
cùng khiếp sợ. Hắn chỉ giữ thế thủ, không dám xua quân ra chống
cự dù hàng ngày quân của Lý Bí tiến công áp sát chân thành.
Tiêu Tư bèn vội vàng một mặt cho người đem vàng bạc đến trước
quân thứ của Lý Bí cầu xin tha tội chết, một mặt tìm cách trốn
về nước.
26
Sau nhiều ngày công kích quyết liệt, nghĩa quân phá vỡ được
thành. Quân Lương vội vã đầu hàng còn Tiêu Tư thừa cơ hội
lộn xộn đã trốn thoát chạy về Quảng Châu (Trung Quốc). Lý Bí
vào thành vỗ an dân chúng và tha chết cho quân Lương về nước.
Ông cùng các tướng sĩ lo ổn định lại tình hình trong nước cũng
như chuẩn bị đối phó sự phản công của nhà Lương.
27
Được tin thành Long Biên thất thủ, vua nhà Lương lập tức cho
tập hợp quân lính sẵn sàng kéo quân sang xâm lược lại đất Việt.
Đầu năm 543, hai Thứ sử là Lư Tử Hùng và Tôn Quýnh được lệnh
cầm đầu toán quân này. Bấy giờ là cuối đông, Giao châu đang đổi
mùa, thời tiết rét và ẩm làm cho quân Lương bệnh hoạn liên
miên. Vì thế Tử Hùng xin với vua Lương cho đợi đến cuối xuân
ấm áp sẽ tiến quân.
28
Tiêu Tư đang nương náu ở Quảng Châu, nghe tin, liền xúi dục
Thứ sử Quảng Châu là Tiêu Ánh không đồng ý hoãn binh. Tiêu Ánh
nghe lời, tâu với vua Lương cho lệnh xuất quân ngay. Bọn Lư Tử
Hùng bắt buộc phải tuân theo. Quân kéo đến Hợp Phố liền bị
Lý Bí chận đánh tan tác. Quân Lương mười phần bị giết chết đến
bảy, tám. Đám tàn quân phải lui về Quảng Châu.
29
Tiêu Tư vu tấu với vua nhà Lương rằng: Tử Hùng và Tôn
Quýnh thông mưu với Lý Bí nên đã dùng dằng không chịu tiến
quân.
Vua Lương tức giận, bắt tội hai tướng ấy phải chết. Lư Tử Hùng
và Tôn Quýnh đành tự tử chết ở Quảng Châu.
30
Sau khi đánh thắng quân Lương ở Hợp Phố, Lý Bí lại phải lo
đối phó với cuộc xâm lấn của vương quốc Lâm Ấp ở phía nam.
Quốc vương Lâm Ấp nhân cơ hội quân Lương và nghĩa quân đang
tương tranh ở mạn bắc, đã thân hành dẫn quân vào Đức châu đánh
phá. Lý Bí phải chia binh, cho lão tướng Phạm Tu mang quân
xuống phía nam đánh tan được quân Lâm Ấp, đuổi quốc vương
Lâm Ấp phải chạy về nước.
31
Cuộc khởi nghĩa của dân Việt hoàn toàn thắng lợi, đất nước
giành lại quyền độc lập. Mùa xuân năm 544, Lý Bí lên ngôi, xưng
là Lý Nam Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức. Vua đặt tên nước là
Vạn Xuân. Vua nói với các quan:
- Ta gọi tên nước là Vạn Xuân vì muốn xã tắc sơn hà luôn tươi
thắm như mùa xuân và trường tồn cho đến muôn đời sau.
32
33
Lý Nam Đế đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội) và
cho dựng điện Vạn Xuân để làm nơi vua quan hội họp bàn việc
nước. Triều đình gồm có hai ban văn võ. Triệu Túc làm Thái phó,
là trụ cột của triều đình, Tinh Thiều làm Tể tướng đứng đầu hàng
ngũ quan văn, Phạm Tu làm Tướng quân đứng đầu các quan võ,
Triệu Quang Phục làm Tả tướng quân.
34
Chùa Trấn Quốc ngày nay.
Để đánh dấu việc lập nước, Lý Nam Đế cho xây một ngôi chùa
lớn nằm bên bờ sông Hồng và đặt tên là Khai Quốc (mở nước).
Ngôi chùa này sau trở thành trung tâm Phật giáo lớn của nước ta. Đến
đời nhà Lê thì bãi sông ấy bị lở. Dân chúng bèn dỡ chùa dời vào
hòn đảo Cá Vàng ở giữa hồ Tây và đổi tên là chùa Trấn Quốc (giữ
nước). Hiện nay, chùa Trấn Quốc, tượng trưng cho nước Vạn Xuân
xưa vẫn còn và đã trở thành một nơi danh thắng của thủ đô Hà Nội.
35
Thấy thuộc quốc của mình trở
nên một vương quốc độc lập và
đang xây dựng cuộc sống riêng,
vua quan nhà Lương không thể
nào chấp nhận được. Cùng năm
với Lý Nam Đế lên ngôi vua, nhà
Lương sai Tả vệ tướng quân là
Lan Khâm kéo quân sang đánh.
Nhưng Lan Khâm chỉ mới kéo
quân qua khỏi núi Ngũ Lĩnh thì
nhuốm bệnh mà chết. Quân sĩ lại
lục tục quay trở về.
36
Tuy thế, nhà Lương vẫn không từ bỏ ý đồ xâm lược. Năm
sau, vào tháng 5 vua nhà Lương lại phong cho một thuộc tướng
là Dương Phiêu làm Thứ sử Giao châu, bên cạnh Dương Phiêu là
danh tướng Trần Bá Tiên làm Tư mã(*). Vua Lương còn sai một
thứ sử khác là Tiêu Bột hợp quân cùng Dương Phiêu.
* Trần Bá Tiên sau này cướp ngôi nhà Lương và trở thành vua Cao Tổ của
nhà Trần - Trung Quốc.
37
Tiêu Bột biết tướng sĩ của mình sợ đi xa, nên lần lữa giữ chân
Dương Phiêu lại. Trần Bá Tiên là người hiếu chiến luôn luôn thúc
dục Dương Phiêu tiến quân. Bá Tiên nói rằng:
- Quan Thứ sử Tiêu Bột muốn lẩn lút tạm yên là không muốn
ngó việc lớn ở trước mắt. Còn như túc hạ vâng lời vua đi đánh kẻ
có tội (tức Lý Nam Đế), há dùng dằng không tiến, lệnh vua ban
xuống, sống chết không biết ra sao. Lại có tội để cho quân giặc
lớn thêm và quân mình nản chí ư?
38
Thúc dục xong, Trần Bá Tiên trở về trại của mình hạ lệnh
xuất quân, không thèm đợi lệnh của Dương Phiêu, Dương Phiêu
đành phải nghe theo. Hắn phong cho Bá Tiên làm tiên phong và
chia quân làm hai đạo thủy, bộ cùng phối hợp tiến vào đất nước
Vạn Xuân non trẻ. Quân của chúng đi đến đâu cướp bóc đến đấy.
Chúng đốt nhà, chiếm trâu, bò, gà của dân chúng làm lương ăn.
39
Lý Nam Đế vội vàng đem ba vạn quân ra chống giặc ở vùng
Lục Đầu (Hải Dương), nhưng không cản được sức tiến công ào ạt
của đại quân Lương. Nhà vua đành phải cho quân lui về giữ thành
ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Quân của nhà vua tuy dũng cảm
chiến đấu nhưng số lợng ít ỏi, chỉ co cụm cố thủ trong thành.
Còn thành thì lại rất sơ sài, chỉ bằng tre gỗ và đất đắp qua loa
mà quân Lương lại công thành như vũ bão.
40
Hai vị tướng trẻ Trình Đô và Tam Cô đem quân chận địch trên
sông Tô Lịch. Những trận thủy chiến ác liệt xảy ra. Vào mùa hạ
năm Ất Sửu (545), quân Lương dựa thế nước dâng cao, bất ngờ
tấn công thủy binh của hai tướng. Quân sĩ hy sinh không còn ai
và lại bị vây khốn. Để không sa vào tay kẻ thù, Trình Đô và
Tam Cô để nguyên áo giáp, nhảy xuống sông trầm mình (ngày 15
tháng 6 âm lịch). Người đời sau tôn hai vị tướng làm Hộ quốc và
thờ ở đình Xuân Đề.
41
Mặt trận trên bờ cũng không kém phần ác liệt. Lão tướng
Phạm Tu ra sức chỉ huy quân lính chống cự trong làn tên mũi
đạn, cố giữ từng đoạn thành mong manh. Nhưng rồi, quân Vạn
Xuân không giữ được lâu. Thành vỡ, quân Lương ùa vào chém
giết tơi bời. Trước bầy lang sói đông đúc, lão tướng Phạm Tu ngã
gục, thân mình bị hàng chục mũi giáo xuyên qua. Đó là ngày
20 tháng Bảy năm Ất Sửu (545). Người đời sau thờ lão tướng
tại đền Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
42
Còn lại Tả tướng quân Triệu Quang Phục cùng cha là Triệu Túc
bảo vệ được Lý Nam Đế thoát khỏi đám loạn quân. Vua cùng các
tướng chạy ngược sông Hồng đến thành Gia Ninh(*). Quân Lương
đuổi theo áp sát và tiến hành vây thành. Đến đầu năm 546, thành
Gia Ninh thất thủ. Quân Lương cho đóng đồn ở cửa sông để
bảo vệ thành.
* Thành Gia Ninh nguyên là đất huyện Mê Linh, đến đời nhà Ngô cai trị thì
đất tên là Gia Ninh, nay là thành phố Việt Trì, Phú Thọ.
43
Lý Nam Đế cùng các tướng sĩ chạy vào miền núi rừng Vĩnh Phú.
Tại đây, nhà vua không những được sự ủng hộ của dân chúng
người Việt mà còn cả dân của các bộ tộc ít người nữa. Vì thế,
lực lượng của nhà vua tăng lên đáng kể. Quân số lên tới vài vạn
người. Giữa năm 546, nhà vua đem hai vạn quân ra thao luyện ở
hồ Điển Triệt.
44
Hồ Điển Triệt còn có tên Nôm là đầm Miêng, nay thuộc xã Tứ
Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Bạch Hạc khoảng
15km. Đầm nằm bên bờ sông Lô, ba mặt Tây, Nam, Đông được
các dải đồi cao che phủ, chỉ có mặt Bắc là một con ngòi chảy
ngang qua cánh đồng trũng thông với sông Lô. Đó là con đường
độc đạo đi vào hồ.
45
Hàng ngày Lý Nam Đế lên quả đồi cao nhất để quan sát địch
tình ở cửa sông Lô. Quả đồi ấy sau được mang tên là đồi Vua Ngự.
Nhà vua đôn đốc quân lính lên rừng đốn cây đẽo thuyền độc mộc
và cho quân tập trận thường xuyên. Số thuyền đóng được ngày
càng nhiều, mỗi khi thao luyện, trên mặt hồ san sát đầy chật
thuyền bè.
46
Trần Bá Tiên dò biết lực lượng của Lý Nam Đế đang hồi phục,
vội vã cho quân tấn công ngay để ngăn chặn sức lớn mạnh của
nghĩa quân. Hắn cho quân từ thành Gia Ninh kéo ra, ngược dòng
sông Lô định xâm nhập vào hồ Điển Triệt nhưng quân Vạn Xuân
cản phá kịch liệt. Trần Bá Tiên phải cho quân dừng ở cửa hồ, đóng
trại ngay trên cánh đồng trũng.
47
Quân Lương mỏi mệt, các tướng thì chán nản nhưng Trần Bá
Tiên là một tay đa mưu túc trí. Hắn hăng hái động viên:
- Quân ta đã mỏi mệt mà không có cứu viện, nay ta lại vào
chốn tâm phúc người ta, nếu đánh mà không được, thì không có
đường sống mà về! Nhưng quân họ lâu nay thua luôn, nhân tính
chưa bền, chính là lúc ta phải đem một trăm phần chết cố sức đánh
lấy; chứ vô cố mà đình lại thì hỏng việc mất.
Các tướng nghe nói đều nín lặng.
48
 





