DANH NGÔN HAY

Thế giới vô cùng vĩ đại. Cặp mắt của bạn chỉ thấy được một phần nhỏ bé không đáng kể. Bởi vậy bạn hãy tìm lấy các sự kiện ở trong sách. Hãy tích lũy đều đặn hàng ngày các sự kiện ấy (V.Ôbrưsép)

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

TRUYỆN ĐỌC TRONG SÁCH- SƯU TẦM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Tết Nguyên Đán Việt Nam là dịp thiêng liêng để đoàn viên gia đình, tưởng nhớ tổ tiên và cội nguồn, bày tỏ lòng biết ơn thần linh, đồng thời là biểu tượng cho sự khởi đầu mới, hy vọng vào một năm mới an khang, thịnh vượng, gác lại điều không may của năm cũ. Tết là khoảnh khắc giao hòa giữa trời đất và con người, kết nối tình thân và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7335251847973_c5b30c35eb97fd3fde3a79879c2e83de.jpg Z7335251844968_bd489058fb43609505e3dbaac950ff13.jpg Z7335251836670_666ae0c6c91f8438f1a22e7d77edaf7f.jpg Z6067290810969_47c663cf604de88cf7dcc2c5578ec3e9.jpg Z6067291122052_976a842e05b1b8bd975bfd109e4e19a7.jpg Z6067291084678_b84ce716530d124b22147ff4563e56ae.jpg Z6067291046006_12a3bc33c27e7e40da56c0468d75aeee.jpg Z6067290850285_f5c10e744efd9d7ad7c598fa581d6c3c.jpg Z6067290897032_b7e7259d00c2f5978d7df2d2f5291778.jpg Z6005308826541_12443e8511cded7ef1871640f4ac1219.jpg Z6004171842078_9434c665b229556e27ee1772c88a063c.jpg NOI_QUY_THU_VIEN_THAN_THIEN.jpg Z5333306881754_a1561a05582913f3daea635b8127ce7b.jpg Z5333306883294_4b97b2891e0b5f95efbefc7e17eeac39.jpg Z5333306887652_437c5bace3ec71df1d035cbf253cfdd8.jpg Z5333306905338_98546da46d9a2597a4f12a6d0df589e8.jpg BANG_HUONG_DAN_GIAO_VIEN_HOC_SINH_DOC_MUON_TAI_LIEU_THU_VIEN.png Z5253442852629_1a4c549fb60469f32cf51fa3aaf69085.jpg Anh1.jpg Z5253442852007_0811db2ba172f3b64db214ca84a24dfe.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SGV-SÁCH HAY SƯU TẦM

    SÁCH NÓI - SƯU TẦM

    BẢN TIN

    CHÀO MỪNG the marquee trong HTML Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, chấm dứt khủng hoảng về đường lối cách mạng và mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    STN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Internet
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 05h:33' 13-12-2024
    Dung lượng: 3.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ năm

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Cảnh
    Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Trần Hưng Đạo / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ
    Nguyễn Quang Cảnh. - Tái bản lần thứ 5. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
    104 tr, ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.25).
    1. Trần Hưng Đạo, 1226-1300 . 2. Tướng - Việt Nam - Sách tranh. 3. Việt Nam - Vua
    và quần thần - Sách tranh. 4. Việt Nam - Lịch sử - Triều nhà Trần, 1225-1400 - Sách
    tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Trần Hưng Đạo, 1226-1300. 2. Generals - Vietnam - Pictorial works. 3. Vietnam
    - Kings and rulers - Pictorial works. 4. Vietnam - History - Trần dynasty, 1225-1400 Pictorial works.
    959.7024092 - DC 22
    T772

    LỜi giỚi thIỆu
    Vó ngựa xâm lược và mộng bành trướng của giặc Nguyên
    – Mông đã đặt Đại Việt trước thử thách tồn vong. Nhưng
    chính trong bối cảnh cam go ấy, lòng yêu nước của hoàng
    tộc, quan lại và nhân dân Đại Việt cũng được thử thách. Bên
    cạnh những kẻ sinh lòng phản trắc, Đại Việt bấy giờ không
    thiếu những tấm lòng ưu quân ái quốc, mà nổi bật nhất chính
    là vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo.
    Vì nước nhà gạt bỏ thù riêng, vì đại sự gạt đi hiềm khích,
    biết dùng người tài không màng chuyện cũ, khéo tiến cử
    người tài chẳng màng xuất thân, …. bên cạnh tài cầm quân
    thao lược làm nên một Hưng Đạo vương văn võ song toàn,
    toàn tài vẹn đức được sử sách hết mực ngợi ca.
    “tiếng vang đến phương Bắc, khiến chúng thường gọi ông
    là An Nam Hưng Đạo vương mà không dám gọi thẳng tên”
    Đại Việt sử ký toàn thư
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 25 của
    bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh Trần Hưng Đạo phần lời
    do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình ảnh do họa sĩ
    Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 25 của bộ
    Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    Nhà xuất bản trẻ

    Trần Hưng Đạo còn được gọi là Hưng Đạo vương,
    chưa rõ ngày tháng năm sinh, mất ngày 20 tháng tám
    âm lịch năm Canh Tý (1300).
    Sử sách có ghi lại rằng, ngay từ nhỏ ông đã là người
    có “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, và
    nhờ “được những người tài giỏi đến giảng dạy” mà ông
    sớm trở thành người “đọc thông hiểu rộng, có tài văn
    võ”. Đó cũng là nền tảng vững chắc hun đúc nên một
    nhà chính trị lỗi lạc, một nhà quân sự tài tình và một
    bậc công thần hết lòng vì dân vì nước.

    4

    Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn. Ông là con trai
    thứ của An Sinh vương Trần Liễu và là cháu gọi Trần Cảnh (tức
    vua Trần Thái Tông) là chú ruột. Sử sách không ghi lại năm sinh
    của Trần Quốc Tuấn. Một số sử gia, sau khi đối chiếu nhiều sách
    vở, nhiều sự kiện, cho rằng Trần Quốc Tuấn sinh vào khoảng
    1229-1230. Như vậy, khi ông ra đời, nhà Trần đã nắm ngôi báu
    được mấy năm.

    5

    Ông nội của Trần Hưng Đạo là Trần Thừa. Cuối thời Lý, nhờ
    công phò giúp lúc nội biến, từ một gia đình đời đời làm nghề đánh
    cá ở Tức Mặc (Nam Định), Trần Thừa trở thành quan Nội thị Phán
    thủ. Khi Trần Cảnh lên làm vua, Trần Thừa được tôn là Thái Tổ
    mặc dù chưa làm vua ngày nào. Trong số 6 người con(*) của Thái
    Tổ Trần Thừa, thì Trần Liễu là con trưởng. Như vậy, về thế thứ,
    Trần Quốc Tuấn thuộc dòng trưởng trong hoàng tộc nhà Trần.
    (*)  Bốn con trai là: Trần Liễu (An Sinh vương), Trần Cảnh (vua Trần Thái
    Tông), Trần Nhật Hiệu (Khâm Thiên vương), Trần Bà Liệt (Hoài Đức vương).
    Hai con gái là: Thụy Bà công chúa và Thiên Thành công chúa.

    6

    Năm Trần Quốc Tuấn khoảng 5-6 tuổi, hoàng tộc nhà Trần xảy
    ra biến cố lớn. Do bị Thái sư Trần Thủ Độ buộc phải nhường vợ là
    công chúa Thuận Thiên đang có mang ba tháng cho em trai là vua
    Trần Thái Tông(*), cha Quốc Tuấn là Trần Liễu làm loạn chống lại
    vua và triều đình. Dù anh em đã hòa giải, nhưng từ đó, giữa hai
    gia đình có sự rạn nứt sâu sắc khó hàn gắn được.
    (*)  Xem tập Thành lập nhà Trần.

    7

    Quốc Tuấn được cô ruột là Thụy Bà công chúa nhận làm con
    nuôi. Tuy còn nhỏ, nhưng Quốc Tuấn đã tỏ ra thông minh nhanh
    lẹ. Thấy con sáng dạ, Trần Liễu không tiếc tiền của công sức, mời
    thầy giáo có tiếng tăm khắp nơi về dạy dỗ với mong muốn Quốc
    Tuấn trở thành người tài giỏi để giúp ông rửa hận xưa.
    8

    Trần Quốc Tuấn học một biết mười, có năng khiếu cả về văn
    chương lẫn võ nghệ, 7 tuổi đã biết làm thơ, lớn lên cưỡi ngựa bắn
    cung đều giỏi. Với tài thao lược, ông chú tâm nghiên cứu binh
    pháp của người xưa, nghiên cứu những trận đánh nổi tiếng của
    những anh hùng dân tộc mà sử sách đã lưu truyền, rút ra cái hay
    cái dở và tự phô diễn trận đồ rất linh hoạt.
    9

    Năm 21 tuổi, Trần Quốc Tuấn nên duyên với công chúa Thiên
    Thành(*) và sinh hạ tất cả 5 người con, 1 gái 4 trai(**). Các con của
    ông sau này đều là người thành đạt. Người con gái cả là Trinh
    công chúa, sau là hoàng hậu của vua Nhân Tông, vị vua sát cánh
    cùng Trần Quốc Tuấn trong hai cuộc kháng chiến chống quân
    Nguyên. Con trai bà chính là Thái tử Trần Thuyên, tức vua Trần
    Anh Tông.
    (*)  Là cô ruột, triều Trần lấy nhau trong hoàng tộc vì sợ người khác họ cướp
    ngôi.
    (**)  Trần Hưng Đạo còn có người con gái nuôi là Nguyên công chúa.

    10

    Bốn người con trai của
    Trần Quốc Tuấn là Hưng
    Vũ vương Trần Quốc
    Hiển, Hưng Trí vương
    Trần Quốc Nghiễn, Hưng
    Nhượng vương Trần Quốc
    Tảng, Hưng Hiến vương
    Trần Quốc Uy đều là
    những võ tướng có tài, đã
    giúp ông rất nhiều trong
    công cuộc đánh Nguyên.
    Trần Quốc Hiển sau này
    là phò mã của vua Thánh
    Tông, còn Trần Quốc Tảng
    có con gái là hoàng hậu
    của vua Anh Tông. Riêng
    Trần Quốc Nghiễn còn
    có công khẩn hoang, biến
    vùng đất hoang vu ở Hải
    Dương thành những cánh
    đồng phì nhiêu, xanh tốt.
    11

    Năm 1251, Trần Liễu, cha của Quốc
    Tuấn lâm bệnh nặng. Trước khi qua đời,
    Trần Liễu cầm tay Quốc Tuấn trăng trối:
    - Con hãy vì cha mà lấy thiên hạ (ý nói
    cướp ngôi vua) nếu không cha nằm dưới
    đất cũng không sao nhắm mắt được.

    12

    Biết lâu nay cha vẫn không quên oán hận cũ, Quốc Tuấn rất
    thương cha. Là người con có hiếu, ông không khỏi suy nghĩ về di
    huấn của người. Nhưng vua Thái Tông thật sự là một minh quân,
    ngài chấn hưng đất nước khiến thiên hạ thái bình, lại đối xử với
    anh em trong họ thân ái, độ lượng, Quốc Tuấn rất kính phục. Ông
    không thể vì những lời nói của cha mà gây cảnh nồi da xáo thịt.
    Nghĩ vậy, ông giữ kín những lời trối của cha không cho ai biết.

    13

    Là bà con gần với vua, nên Trần Quốc Tuấn được phong tước
    Hưng Đạo vương. Vì vậy, ông thường được gọi là Trần Hưng
    Đạo. Ông được phong thái ấp ở vùng Vạn Kiếp (Vạn Yên, Chí
    Linh, Hải Dương). Đây là nơi có núi cao rừng rậm, lại gần nơi
    hội tụ của 6 con sông(*) cùng đổ ra biển (Lục Đầu) nên vị trí rất
    hiểm yếu.
    (*)  Sông Cầu, sông Đuống, sông Thương, sông Lục Nam, sông Kinh Thầy và
    sông Bình Than.

    14

    Bằng con mắt của một nhà quân sự, lại biết nhìn xa trông rộng,
    Trần Hưng Đạo đã cho xây dựng Vạn Kiếp thành một chốt cứ
    điểm lợi hại, có thể phòng chống giặc phương Bắc bằng cả hai
    mặt thủy bộ. Ở đây, ông còn xây dựng một khu vực trồng cây
    thuốc nam để trị bệnh cho quân lính và dân trong vùng. Nơi trồng
    thuốc của ông đến nay vẫn mang tên là ngọn Dược Sơn.

    15

    Phủ đệ của Trần Hưng Đạo luôn mở rộng cửa để đón bậc anh
    tài. Những người có chí, có nhân hoặc dũng lược mà trung tín, dù
    xuất thân nghèo khổ, ông đều giúp đỡ trau dồi tài năng rồi tiến
    cử cho triều đình thu dụng. Nhiều danh nhân thời ấy như Trương
    Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão đều là môn khách (khách được nuôi ăn
    và ưu đãi trong nhà) của ông.
    16

    Phạm Ngũ Lão là người giỏi võ, quê ở làng Phù Ủng, huyện
    Đường Hào (nay là Ân Thi, Hưng Yên), xuất thân trong một gia
    đình nghèo, sinh sống bằng nghề chẻ tre đan sọt. Một hôm Trần
    Hưng Đạo từ Vạn Kiếp về kinh đi ngang qua vùng này, lúc ấy
    Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt trên đường, vừa đan vừa mải
    mê suy nghĩ nên không để ý đến xung quanh. Quân lính thét bảo
    tránh đường, Phạm Ngũ Lão cũng không nghe thấy gì. Lính lấy
    giáo đâm vào đùi ông, ông vẫn ngồi yên.
    17

    Lấy làm lạ, Trần Hưng Đạo hỏi: “Đùi nhà ngươi bị đâm như
    thế, sao không biết đau, lại cứ ngồi yên như vậy?” Phạm Ngũ Lão
    mới bừng tỉnh đáp lại: “Tôi đang nghĩ mấy câu trong binh thư
    (sách về binh lược) nên không thấy gì cả!” Trần Hưng Đạo thử
    hỏi về binh cơ thì ông ứng đối rất trôi chảy. Cảm nhận được người
    tài, Trần Hưng Đạo mời Phạm Ngũ Lão theo về với mình.
    18

    Nhiều người chê Phạm Ngũ Lão là kẻ hàn vi, không tin ông có
    tài và thách đấu với ông. Nhưng sức ông vật ngã năm sáu vệ sĩ,
    mọi người đều phải phục. Còn Trần Hưng Đạo thì đem con gái
    nuôi là Nguyên công chúa gả cho Phạm Ngũ Lão rồi tiến cử ông
    lên vua Nhân Tông.

    19

    Phạm Ngũ Lão được vua phong làm chỉ huy cấm quân. Ông
    điều khiển quân lính có kỉ luật, đối đãi với tướng sĩ như người
    nhà, cùng sĩ tốt đồng cam cộng khổ, được ban thưởng gì đều bỏ
    vào kho chung của quân, không hề bận tâm với tiền của. Vì vậy,
    quân dưới trướng ông trên dưới yêu thương nhau như cha con một
    nhà, đều hết lòng chiến đấu nên đánh đâu thắng đó.
    20

    Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, ông phù
    trợ tích cực cho Trần Hưng Đạo, góp công vào các trận đánh lớn
    quyết định như trận Chương Dương, Tây Kết. Đặc biệt trong trận
    mai phục đường rút của Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, ông đã lập công
    bắn chết một tướng giặc. Nhưng Phạm Ngũ Lão không chỉ là một
    võ tướng, ông còn là một nhà thơ, có một bài thơ tứ tuyệt được
    lưu truyền trong sử sách mà đời sau gọi là bài Thuật Hoài (dịch):
    Múa giáo non sông trải mấy thu
    Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
    Công danh trai tráng còn mang nợ
    Luống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu(*).
    (*)  tức Gia Cát Lượng.

    21

    Trong khi Phạm Ngũ Lão là một võ tướng
    thì Trương Hán Siêu là một nhà nho, quê ở làng Phúc Am, huyện
    An Khánh, lộ Trường Yên (nay thuộc thành phố Ninh Bình). Biết
    ông là người văn hay chữ tốt, kiến thức uyên bác, Trần Hưng Đạo
    giao cho ông phụ trách viện văn thư trong vương phủ của mình.
    Sau một thời gian, Trần Hưng Đạo tiến cử Trương Hán Siêu lên
    nhà vua và được nhà vua trọng dụng.
    22

    Trương Hán Siêu được giao giữ chức
    Hàn Lâm học sĩ và nhiều chức vụ quan
    trọng khác trong hàng quan văn. Những
    tác phẩm văn chương của ông rất nổi
    tiếng, đặc biệt nhất là bài phú Bạch Đằng
    Giang. Xúc động trước chiến công tuyệt
    vời của quân dân Đại Việt đánh thắng
    giặc Nguyên - Mông hung hãn, ông đã
    sáng tác ra bài phú xuất chúng ấy và dành
    những câu trân trọng để ca ngợi tài cầm
    quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc
    Tuấn.
    23

    Với những gia nô trong nhà, nếu có thực tài, Trần Hưng Đạo
    đều tin cậy và giao phó trọng trách. Yết Kiêu là người có tài bơi
    lặn lâu trong nước, còn Dã Tượng thì to lớn, khỏe mạnh. Cả hai
    được Trần Hưng Đạo nuôi nấng, dạy dỗ chu đáo; bù lại, Yết Kiêu
    và Dã Tượng cũng rất trung thành với ông. Dã Tượng là người
    không rời Trần Hưng Đạo nửa bước, vừa sát cánh chiến đấu, vừa
    bảo vệ chủ.

    24

    Còn Yết Kiêu, với tài bơi lặn, đã từng giúp Trần Hưng Đạo đục
    đắm thuyền của quân Nguyên. Được giao trông coi thuyền chiến,
    Yết Kiêu đã nêu tấm gương sáng không chỉ là lòng trung thành với
    chủ mà còn là ý thức kỷ luật của người lính trước mệnh lệnh của
    chủ tướng. Trong lần chống quân Nguyên năm 1285, quân giặc
    tràn vào Lạng Sơn, quân Đại Việt không thể chống đỡ, đều đã rút
    lui. Riêng Yết Kiêu bất chấp nguy hiểm, vẫn chống thuyền chờ
    Trần Hưng Đạo và kịp thời đưa ông đi trước khi quân giặc ập đến.
    25

    Trần Hưng Đạo vô cùng cảm kích trước sự hi sinh của Yết
    Kiêu và Dã Tượng. Ông cho rằng những người làm nên được
    những chiến tích oai hùng đều phải nhờ đến những người dưới
    quyền như Yết Kiêu và Dã Tượng. Ông đã ca ngợi họ qua câu
    nói: “Chim hồng hộc (ám chỉ những người làm nên chiến tích)
    có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ xương cánh (ám chỉ
    những người bình dân), nếu không thì chim hồng hộc cũng như
    chim thường thôi”.

    26

    Việc Trần Hưng Đạo đánh giá cao vai trò của tầng lớp bình dân
    lao động đã có ảnh hưởng đến vua Trần Nhân Tông. Nhà vua có
    thái độ ân cần đối với tầng lớp này và bảo với các quan lại phải
    biết đến công lao của họ: “Ngày thường ta có nhiều kẻ hầu người
    hạ hai bên, nhưng khi nước nhà hoạn nạn thì chỉ có bọn họ đi theo
    thôi”.

    27

    Nhưng Trần Hưng Đạo được mọi người quý trọng và theo về
    không phải chỉ vì ông là người chủ độ lượng, mà hơn tất cả, chính
    vì ông là người trung nghĩa, hết lòng vì nước vì dân. Khi quân
    Nguyên sang xâm lấn Đại Việt, quyền bính nằm cả trong tay, nếu
    thực hiện theo di chúc của cha thì đó là thời cơ thuận tiện nhất.
    Nhưng ông đã không hành động gì mà còn tỏ rõ ý muốn xóa bỏ
    hận thù. Một hôm, để tỏ ý kiên định và cũng để thử lòng người
    thân cận, Trần Hưng Đạo họp các con cùng tướng tá, gia nô và
    nhắc lại lời trăn trối của cha.
    28

    Hai gia nô tâm phúc là Yết Kiêu và Dã Tượng
    khẳng khái bày tỏ ý nghĩ của mình:
    - Đại vương quyền cao chức trọng như thế là
    đủ lắm rồi, chúng tôi thà làm gia nô suốt đời chứ
    không muốn làm quan mà mang tiếng là người
    không trung nghĩa.
    Các con của Trần Hưng Đạo cũng tán đồng:
    - Việc cướp ngôi đối với người khác họ cũng
    đã không nên làm, huống chi là anh em trong
    cùng một dòng tộc.

    29

    Hưng Đạo vương rất hài lòng trước những lời nói đầy nghĩa
    tình đó. Nhưng riêng người con trai thứ ba là Hưng Nhượng
    vương Trần Quốc Tảng lại hung hăng lên tiếng:
    - Vua Tống trước đây chỉ là một nông phu mà còn chớp được
    thời cơ, cướp được thiên hạ, huống chi nhà ta là danh gia vọng tộc.

    30

    Những lời bạc tình bạc nghĩa này làm cho Trần Hưng Đạo rất
    tức giận. Ông rút gươm định chém người con có lòng dạ bất trung
    ấy, nhưng mọi người hết lòng can gián. Ông đành đuổi Trần Quốc
    Tảng đi và truyền lệnh:
    - Sau này khi ta chết phải đậy nắp quan tài mới cho nó vào
    viếng.

    31

    Không những răn dạy con cháu trong nhà, Trần Hưng Đạo còn
    chủ động hòa giải với anh em trong họ. Trong cư xử hàng ngày,
    ông luôn giữ thái độ khiêm nhường, hòa mục. Tuy với địa vị
    của mình, ông được phép ban thưởng chức tước cho người khác,
    nhưng chưa bao giờ Trần Hưng Đạo sử dụng quyền hạn ấy. Lúc
    giặc Nguyên xâm lấn, nhiều nhà giàu đóng góp lúa gạo, vũ khí
    cho quân đội. Để động viên khuyến khích, ông cũng ban cho họ
    chức Lang tướng nhưng chỉ tạm thời, chờ vua chuẩn y mới dám
    quyết định.

    32

    Một lần vua Thánh Tông đi dẹp loạn Mán Bà La, có Trần
    Quang Khải đi theo hộ giá. Lúc ấy sứ nhà Nguyên sang, Thượng
    hoàng Trần Thái Tông cho vời Trần Hưng Đạo đến bảo:
    - Nay Thượng tướng vắng mặt, trẫm muốn phong cho khanh
    chức Tư đồ để ứng đối với Bắc sứ.
    33

    Vốn là người chính trực, không muốn có sự hiểu lầm rằng
    mình lợi dụng lúc vua và Quang Khải đi vắng để tranh giành chức
    tước, Trần Hưng Đạo liền tâu:
    - Ứng tiếp sứ giả, thần không dám từ chối nhưng chức Tư đồ,
    thần không dám nhận. Nay Quan gia(*) cùng Thượng tướng đi
    đánh giặc nơi xa, bệ hạ lại tự ý làm việc phong chức thì tình nghĩa
    trên dưới e rằng không ổn thỏa.
    (*)  Thời Trần gọi vua là Quan gia.

    34

    Bằng thái độ nhún nhường và trân trọng như thế, Trần Hưng
    Đạo đã lấy lại lòng tin của vua và các anh em trong họ. Sử sách
    còn ghi lại câu chuyện cảm động về tình cảm chân thành của Trần
    Hưng Đạo với người em con chú là Trần Quang Khải. Một lần
    Quang Khải có việc phải xuống thuyền của ông, ông đã lấy nước
    thơm dội cho Quang Khải tắm để tỏ rõ tấm lòng thuận thảo của
    mình. Trần Quang Khải rất xúc động trước cử chỉ ấy, và sau này,
    hai người sát cánh bên nhau trong công cuộc chống quân Nguyên.

    35

    Sự hiềm khích trong nhà, trong hoàng tộc đã được giải quyết,
    nhưng bóng mây nghi ngờ vẫn còn lởn vởn trong triều đình. Có
    lần trong chuyến bảo vệ vua chạy lánh quân Nguyên, Trần Hưng
    Đạo cầm theo chiếc gậy chống có mũi bịt sắt. Nhiều người lo lắng
    sợ ông thừa cơ giết vua. Trần Hưng Đạo liền tháo mũi sắt ra vứt
    đi và chỉ cầm gậy không. Vì thế không còn ai nghi ngờ ông nữa.

    36

    Bên cạnh những phẩm chất cao quý, Trần Hưng Đạo còn là
    một vị tướng tài ba. Ông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt ba lần
    đánh bại giặc Nguyên Mông hung hãn nhất bấy giờ. Vào năm
    1258, quân Mông Cổ sang xâm lấn Đại Việt lần thứ nhất. Khi ấy
    Trần Hưng Đạo chưa đến 30 tuổi. Ông được lệnh vua đem quân
    thủy bộ đi trấn giữ biên giới phía Bắc. Ông đã xuất sắc hoàn thành
    nhiệm vụ của mình, thông báo chính xác tình hình động binh của
    quân giặc giúp triều đình kịp ứng phó.

    37

    Sau đó, ông đã rút quân về phối hợp với nhà vua chống giặc
    ở Bình Lệ Nguyên và cuối cùng là tập kích giặc ở Đông Bộ Đầu
    khiến chúng phải rút chạy về nước. Trong lần chống giặc này,
    ông chưa giữ vai trò quyết định nhưng sự tận tụy, lòng quả cảm
    và đức độ của vị tướng trẻ đã khiến Thái sư Trần Thủ Độ và vua
    Thái Tông thêm tin tưởng vào lòng trung thành và tài cầm quân
    của Trần Hưng Đạo.

    38

    Sau trận đại bại lần thứ nhất, quân Mông Cổ rất muốn phục thù
    ngay, nhưng lúc đó, chúa Mông Cổ là Mông Kha chết. Hốt Tất
    Liệt lên thay, đổi quốc hiệu là Nguyên. Nhà Nguyên lại tiến quân
    xâm lược nhà Tống (Trung Quốc) nên chưa rảnh tay phục thù Đại
    Việt. Tuy vậy, chúng vẫn liên tục cho sứ giả sang hạch sách vua
    Trần, đòi phải tiến cống và sang chầu.
    39

    Lợi dụng tình thế ấy, nhà Trần đã cố gắng kéo dài thời kì hòa
    hoãn để củng cố lực lượng. Thời gian này, Trần Hưng Đạo lại góp
    phần mình trên mặt trận ngoại giao, thể hiện là một nhà ngoại giao
    xuất sắc. Năm 1281, sứ giặc là Sài Thung đến nước ta, nghênh
    ngang cưỡi ngựa vào tận thềm điện Tập Hiền. Thượng tướng Thái
    sư Trần Quang Khải vào gặp, hắn nằm ngoảnh mặt vào trong,
    không chịu tiếp.

    40

    Trần Hưng Đạo liền gọt tóc, ăn mặc như một nhà sư đến gặp
    Thung. Thấy ông bước vào với phong thái ung dung, Thung tưởng
    là một nhà sư phương Bắc, lật đật ngồi dậy tiếp. Sau nhận ra Trần
    Hưng Đạo, y ra hiệu cho tên lính cầm mũi tên đâm vào đầu ông
    đến chảy máu, nhưng ông vẫn không thay đổi sắc mặt. Thung rất
    phục, tiếp đón Trần Hưng Đạo chu đáo, khi ông cáo từ, y theo ra
    tận cửa để tiễn.
    41

    42

    Qua những cuộc tiếp xúc ngoại giao như vậy, nhà Trần biết
    được ý đồ của quân Nguyên muốn mượn đường tiến đánh Chiêm
    Thành, nhưng thực chất là xâm lược Đại Việt. Vì vậy vào cuối
    năm 1282, vua Trần triệu tập hội nghị các vương hầu để lên chiến
    lược đối phó với quân Nguyên. Hôm ấy, tại bến Bình Than, gần
    phủ đệ Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo, thuyền chiến đậu san sát,
    tinh kỳ phấp phới. Tất cả các vương hầu trong tôn thất nhà Trần
    đều có mặt.

    43

    Ở đây, một lần nữa, Trần Hưng Đạo lại chứng tỏ mình là một
    con người vì nước quên nhà. Mấy năm trước, Trần Khánh Dư vì
    có quan hệ với con dâu sắp cưới của Trần Hưng Đạo nên bị vua
    phạt lột bỏ hết chức tước phải về quê bán than. Nay trước nạn
    nước, Trần Hưng Đạo sẵn sàng bỏ qua lỗi lầm của Khánh Dư,
    chấp nhận để Khánh Dư lên thuyền cùng bàn việc nước.

    44

    Trần Khánh Dư đã không phụ lòng của Trần Hưng Đạo. Trong
    khi các quan cứ bàn đi tính lại, người thì cho rằng cứ đem đồ tiến
    cống để dùng kế hoãn binh, người lại sợ chiến tranh nên muốn để
    quân Nguyên mượn đường... Cứ thế hai bên tranh cãi, không đi
    đến quyết định nào thì Trần Khánh Dư tán đồng ý kiến của Trần
    Hưng Đạo là phải cương quyết đem quân chống giữ các nơi hiểm
    yếu.

    45

    Lập trường của Trần Hưng Đạo rất hợp ý Thượng hoàng Thánh
    Tông và vua Nhân Tông. Ngài phong cho Trần Hưng Đạo làm
    tổng chỉ huy quân đội với tước vị Quốc công Tiết chế. Lại phong
    cho Trần Khánh Dư là Phó tướng phụ trách vùng biển Vân Đồn.
    Nhận trọng trách, Trần Hưng Đạo đem hết sức mình ra gánh vác.
    Yên tâm về mặt biển đã có Khánh Dư, ông ngày đêm thao luyện
    quân sĩ, chỉnh đốn đội ngũ, sắm sửa khí giới, sẵn sàng chờ giặc.

    46

    Bên cạnh đó, để hun đúc tinh thần yêu nước, lòng can đảm
    cho quân và dân, Trần Hưng Đạo đã viết bài hịch cho các tướng
    sĩ. Bằng những lời lẽ thắm thiết, hùng hồn, bằng những phân
    tích đanh thép mà chứa chan tình cảm, mỗi lời hịch của Trần
    Hưng Đạo thấm thía đến từng con người: “Dẫu cho trăm thân
    này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng
    cam lòng...”
    47

    Bài hịch của vị Quốc công Tiết chế đã khơi dậy lòng quyết
    tâm đánh giặc của quân dân Đại Việt, lay động và thức tỉnh tất
    cả những kẻ còn đang thờ ơ trước nạn nước. Không kìm được, cả
    khối người đồng thanh hô to: Sát Thát! Sau đó tất cả tự nguyện
    lấy chàm thích lên tay hai chữ này để tỏ rõ quyết tâm của mình.
    “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo thực sự là một áng thiên cổ
    hùng văn, có giá trị lớn trong nền văn học nước nhà.

    48
     
    Gửi ý kiến

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10