BẢN TIN
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
STN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:34' 13-12-2024
Dung lượng: 6.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:34' 13-12-2024
Dung lượng: 6.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ nhất
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Ông Nghè ông Cống / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa
sĩ Nguyễn Quang Cảnh. - Tái bản lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
100 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.39).
1. Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa Lam Sơn, 1418-1428 — Sách tranh. I. Trần Bạch
Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Lam Sơn Uprising, 1418-1428 — Pictorical works.
959.70252 — dc 22
O58
LỜI GIỚI THIỆU
Chế độ khoa cử nước ta bắt đầu từ năm 1075 dưới
triều vua Lý Nhân Tông nhưng chỉ khi đến thời Lê sơ
(1428-1527) mới trở nên thịnh đạt, chặt chẽ và chính
quy.
Các triều vua thời Lê sơ đều coi thi cử là cơ sở
tuyển chọn nhân tài, tuyển lựa quan lại. Ở buổi thái
bình thịnh trị được giữ vững, nhà nhà người người đều
dốc chí đèn sách học hành để mong ngày bảng vàng đề
tên. Về phía mình, triều đình Lê sơ cũng đặt ra không
ít những quy định nhằm khuyến khích việc học hành
và thi cử, thể hiện sự quan tâm đến phát triển của giáo
dục nước nhà.
Người xưa đã đã học hành và thi cử ra sao? Câu
trả lời này sẽ được truyền tải trong tập 39 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Ông Nghè ông Cống” phần
lời do Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh
do Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 39
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Theo các tài liệu về khoa cử nước ta còn ghi lại, từ
khoa thi đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919),
các triều đại nước ta đã lấy đỗ tất cả 2896 vị Phó bảng
trở lên. Trong đó, chỉ tính riêng thời Lê sơ đã có 1005
người đỗ từ Tiến sĩ trở lên (thời này chưa có học vị Phó
bảng). Con số này tương đương với số người đỗ đại
khoa dưới thời nhà Mạc (1527-1592) và thời Nguyễn
(1802-1945) cộng lại: 1026 người.
4
Ngày xưa, nói tới trường học trước hết và chủ yếu là nói tới
trường tư. Một viên quan về hưu mở trường dạy học ngay tại tư
dinh của mình. Một người nổi danh hay chữ nhưng chưa đỗ đạt,
mở trường dạy học để vừa kiếm sống, vừa chuẩn bị cho ngày đi
thi. Và một nhà giàu đi đón người hay chữ về dạy cho con em của
mình... Trường học ra đời một cách tự nhiên như vậy.
5
Có những vùng hầu như chẳng một ai hay chữ và cũng không
hề có người nào nổi danh tài học từ nơi khác đến trú ngụ. Con
em những gia đình khá giả của vùng ấy phải lặn lội đến miền xa
xôi để tìm thầy mà học. Người xưa thường gọi hiện tượng này là
“tầm sư học đạo”. Thành tài thật không phải là chuyện dễ dàng.
6
Muốn nhập học trước hết phải trình lễ với thầy. Lễ ấy gồm hai
phần không thể thiếu. Một là lễ vật. Phần này tùy khả năng, miễn
sao tỏ được lòng thành của mình. Hai là lễ nghi. Phần này luôn
được tiến hành với thái độ thực sự cung kính. Cách thi lễ phổ biến
thời ấy là chắp tay xá thầy hoặc là lạy thầy.
7
Người xưa dựa vào độ tuổi để chia học trò thành hai nhóm khác
nhau. Từ khoảng 8 đến 15 tuổi gọi là tiểu tử. Từ 15 tuổi trở lên
gọi là đại nhân. Tuy nhiên, sự phân chia ấy chỉ có ý nghĩa hết sức
tương đối mà thôi. Dưới 15 tuổi mà giỏi vẫn có thể học chung với
lớp của đại nhân, ngược lại, trên 15 tuổi mà mới nhập học thì vẫn
phải học chung với lớp của tiểu tử.
8
Lớp tiểu tử trước hết là học chữ, học sao để có thể đọc
thông, viết thạo và hiểu nghĩa một khối lượng từ vựng
nhất định. Sau mới học đến phép đối, bắt đầu là đối chữ,
kế là đối ý rồi đối câu. Cuối cùng, họ đã có thể tập diễn
đạt được các ý tưởng của mình bằng những đoạn văn chữ
Hán ngắn gọn.
9
Lớp đại nhân là lớp học ở bậc cao. Họ được trang bị kiến thức
về các thể văn, được học các tác phẩm kinh điển của Nho học như
Ngũ kinh (kinh Thư, kinh Thi, kinh Lễ, kinh Dịch và kinh Xuân
Thu), Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh Tử), Bắc
sử (sử Trung Quốc), Bách gia chư tử (sách của các nhà nổi tiếng
ở Trung Quốc thời cổ đại)...
10
Cũng trong lớp đại nhân, những người thông thạo kinh sách,
ứng đối trôi chảy, nắm vững các thể văn và điển tích... thường
được dự các lớp giảng tập đặc biệt. Đó chính là cơ hội để họ thử
tài và làm quen dần với văn chương khoa cử. Ở một chừng mực
nhất định nào đó, có thể ví các lớp giảng tập với các lớp luyện
thi ngày nay.
11
Học trò của bất cứ lớp nào cũng đều là nam giới. Người xưa
cho rằng việc học là việc riêng của đàn ông con trai. Việc của đàn
bà con gái là chợ búa, bếp núc và quán xuyến mọi sự trong nhà
ngoài ruộng. Chỉ một số rất ít con gái của các nhà quyền quý và
những gia đình khá giả mới có thể được học chữ nhưng cũng chỉ
học trong một giới hạn nhất định nào đó và chắc chắn là không
được đi thi.
12
Nội dung được học đầu tiên và nhiều nhất trong mọi nhà trường
là học lễ: lễ giao tiếp trong gia đình, họ hàng và bè bạn; lễ trong
mối quan hệ với thầy học và quan trên; lễ đối với người trong
khắp thiên hạ và cả với muôn đấng thần thánh linh thiêng. Việc
học này để tạo thói quen ứng xử có phép tắc trong cuộc sống, đó
là cơ sở đầu tiên của đạo đức con người. Chẳng phải ngẫu nhiên
mà có câu rằng: Tiên học lễ, hậu học văn.
13
Để quản lý lớp học và để tạo mối quan hệ thuận
tiện giữa thầy và trò, thầy giáo thường chọn một
học trò tin cậy nào đó mà giao cho chức Trưởng
tràng. Đại để, chức Trưởng tràng cũng tương
tự như chức Trưởng lớp ngày nay. Lớp học xưa
thường không đông, nhưng không phải vì thế mà
Trưởng tràng được nhàn rỗi.
14
Việc học là việc rất tốn kém, vì thế, con nhà nghèo hầu như
chẳng mấy ai dám mơ được đến lớp để học. Họ chỉ có thể nấp ở
bên ngoài nghe lén để học lỏm mà thôi. Nhưng nếu là người có
chí thì học lỏm cũng vẫn thành công. Trong khi đó, con em những
gia đình khá giả, nếu không có ý chí bền bỉ, nếu không chịu khổ
chịu kham, cũng khó có thể theo học được lâu. Xưa, có không ít
người phải dở dang việc học là vì vậy.
15
Số người đi học đã ít mà số người có khả năng theo học đến
cùng lại càng ít hơn, do vậy nhà nước thời Lê sơ (và cả các nhà
nước trước đó) đã mạnh dạn miễn sưu dịch cùng một số khoản
đóng góp khác cho học trò. Và để thực sự động viên sĩ tử, thi
thoảng các vua Lê lại ban chiếu khuyến học. Trong xã hội, hai
tiếng học trò cũng được trân trọng chẳng khác gì tên gọi của một
dạng chức sắc.
16
Bởi học tập là một quá trình lâu dài và tốn kém, không ít học
trò lớp trên đã cưới vợ ngay khi còn đi học. Ở thời việc học được
đề cao, các cô gái sẵn sàng chấp nhận khó khăn để được làm vợ
một người có học. Bởi thế, ca dao có câu:
Chẳng tham ruộng cả ao liền
Chỉ ham cái bút, cái nghiên anh đồ.
17
Trong nhiều trường hợp, cả gia đình và họ hàng nhà gái cũng
sẵn sàng góp công góp của cho việc học của chàng rể. Ai cũng
lấy làm hãnh diện nếu con em mình giàu chữ hơn người. Học trò
đi học không phải chỉ là học cho riêng họ, mà còn học cho tất cả
những ai đã tận tâm lo lắng và hào phóng giúp đỡ cho họ.
18
Sau quá trình học tập, các học trò chuẩn bị để đi thi. Lúc này,
họ không còn là học trò nữa mà được gọi chung là những sĩ tử
(như bây giờ ta gọi là các thí sinh). Trước khi đi thi, bất cứ sĩ tử
nào cũng phải viết tờ cung khai tam đại (nghĩa là khai lý lịch ba
đời). Tờ khai đó phải tuyệt đối trung thực. Về sau, giả sử có ai
phát hiện ra sự gian dối thì kẻ khai man sẽ bị nghiêm trị. Nếu đã
đỗ đạt và đã được bổ làm quan thì học vị ấy vẫn bị hủy bỏ, chức
quan ấy vẫn bị thải hồi.
19
Căn cứ vào tờ cung khai tam đại
(và một vài căn cứ khác nữa), triều
đình sẽ loại khỏi danh sách sĩ tử dự
thi là con em của những kẻ phản
nghịch hoặc là con em của những
người làm nghề thấp hèn. Con em
của những kẻ phản nghịch không
được dự thi, tuy có khe khắt nhưng
xem ra cũng là điều tương đối bình
thường ở thời phong kiến.
20
Con em những người làm các nghề bị coi là thấp hèn mà không
được dự thi thì là điều đáng tiếc bởi trong số đó có nhiều người
thực sự tài giỏi. Trong những nghề bị coi là thấp hèn, có nghề hát
xướng. Bấy giờ, người nghệ sĩ bị coi là kẻ mua vui cho thiên hạ,
là xướng ca vô loài mà thôi. Đây là một trong những điểm khác
hẳn giữa quan niệm của người xưa với quan niệm của chúng ta
hiện nay.
21
Có tờ cung khai tam đại rồi, sĩ tử còn phải có thêm tờ bảo kết
hương thí. Tờ này do chức sắc địa phương làm, theo đó thì chức
sắc địa phương phải bảo đảm và cam kết sẽ chịu trách nhiệm trước
phép nước về tư cách và phẩm chất đạo đức của các sĩ tử và gia
đình của họ ở địa phương mình.
22
Cửa ải quan trọng thứ ba mà mọi sĩ tử phải vượt qua trước khi
tới trường thi, đó là cuộc sơ tuyển ở cấp phủ hoặc cấp huyện (tùy
từng địa phương). Tại đây, các quan địa phương sẽ lấy đề thi của
trường Hương các khoa trước cho sĩ tử làm thử, nếu thấy có khả
năng làm được mới cho dự các khoa thi do triều đình mở.
23
Thực ra, việc thi cử bắt đầu có từ năm 1075 dưới thời vua Lý
Nhân Tông và được duy trì suốt cả các triều Lý - Trần sau đó.
Nhưng sang thời Lê sơ mới có những quy định rõ ràng và cụ thể.
Có ba khoa thi gồm hai khoa chính là thi Hương và thi Hội, còn
một khoa phụ là thi Đình hay còn gọi là thi Điện. Học trò phải đậu
được khoa thi Hương mới được đi thi Hội và đậu khoa thi Hội mới
vào khoa thi Đình. Khó khăn của các khoa thi được người xưa ví
như cá chép phải trải ba lần vượt thác ở Vũ Môn để được hóa rồng.
24
Khoa thi Hương đầu tiên trong lịch sử thi cử Nho học ở nước
ta được tổ chức vào năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ tư
(1296), thời vua Trần Anh Tông (1293-1329). Trải hơn trăm năm,
đến thời Lê sơ, thi Hương đã trở nên rất quen thuộc đối với sĩ tử
nước ta, chỉ tiếc là sử sách không cho biết rõ bấy giờ nước ta có
tất cả bao nhiêu trường thi Hương.
25
Thời vua Lê Thái Tổ (1429-1433), cứ đúng lệ ba năm triều đình
tổ chức một khoa thi Hương và ngay sau đó là thi Hội. Nhưng,
thời Lê Thái Tông (1433-1442) và Lê Nhân Tông (1442-1459) thì
phải đến sáu năm mới có một khoa thi. Tới thời Lê Thánh Tông
(1460-1497), chẳng những lệ thi Hương ba năm một lần được phục
hồi mà số người lấy đỗ trong mỗi khoa cũng rất đông.
26
Hai tiếng trường thi dễ khiến cho người đời sau ngỡ rằng đó
là một nơi có sẵn nhà cửa và phòng ốc, nhưng sự thực lại không
phải vậy. Bấy giờ, người ta chọn sẵn một khu đất rộng mà bằng
phẳng để đến kỳ thì tổ chức thi. Chung quanh khu đất ấy thường
có cả nhà trọ và quán xá để sĩ tử có thể thuê mà ăn nghỉ trong
suốt thời gian đi thi.
27
Khi có khoa thi toàn bộ khu đất ấy được rào kín, chỉ chừa bốn
hoặc cũng có khi là tám cửa ra vào. Đất trong trường thi được chia
thành từng khoảnh gọi là vi, thường mỗi trường thi có bốn vi như
vậy. Ở giữa, người ta dựng lên một vài căn nhà lá dùng cho quan
coi thi và chấm thi ở tạm. Mọi thứ cần dùng đều được chuẩn bị
và để sẵn ở trong đó để phục vụ cho các vị quan này trong suốt
thời gian ở trường thi.
28
29
Trước ngày thi, sĩ tử được gọi tên để vào nhận chỗ trong từng
vi và ngay sau khi nhận chỗ, họ phải đem lều đến dựng. Lều ấy có
lẽ thường làm bằng những tấm cót để mang đi cho nhẹ. Nó có tác
dụng che mưa, che nắng, che gió và cả để che những cặp mắt ưa
nhìn bài của người khác nữa. Trong lều có một chiếc chõng nhỏ
để ngồi viết cũng là để nằm nghỉ giữa giờ làm bài vì thời gian thi
không phải chỉ một hai tiếng như bây giờ.
30
Sĩ tử dựng lều và đặt chõng xong, các quan phải cùng nhau đi
kiểm tra từng lều một. Họ coi xét từng khe nhỏ trong lều và trong
chõng, kiểm soát từng dấu đất để xem sĩ tử có giấu hoặc bí mật
chôn tài liệu trong lều không. Việc làm cẩn thận này đã bảo đảm
cho các khoa thi được tiến hành một cách rất nghiêm túc.
31
Bấy giờ, nếu sĩ tử nào cố ý gian lận thì chẳng những bị đuổi ra
khỏi trường thi mà có khi còn bị xử tội rất nặng. Nếu quan trường
không phát hiện được mà sau đó có người biết rồi tố cáo, thì chính
quan trường cũng sẽ bị xử tội. Lại cũng để tránh sự thông đồng
giữa quan trường với sĩ tử, việc coi thi thường chủ yếu là giao
cho các võ quan.
32
Mỗi khoa thi Hương thường kéo dài trên mười ngày, chia làm
bốn đợt làm bài khác nhau, mỗi đợt như vậy gọi là một kỳ hoặc
một trường. Chỉ những ai đỗ kỳ thứ nhất mới được vào thi tiếp
kỳ thứ hai, chỉ những ai đỗ kỳ thứ hai mới được vào thi tiếp kỳ
thứ ba và cũng chỉ những ai đỗ kỳ thứ ba mới được vào
thi tiếp kỳ thứ tư. Đỗ đủ cả bốn kỳ mới thực sự là
người đỗ trường Hương.
33
Lệ thi Hương năm Mậu Ngọ dưới thời Lê Thái Tông, niên hiệu
Thiệu Bình thứ năm (1438), quy định các kỳ làm bài cụ thể như
sau: kỳ thứ nhất thi Kinh nghĩa, đề thi được chọn từ các sách Luận
ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh Tử, mỗi sách chọn một bài
làm đầu đề và bài chọn làm đầu đề phải dài từ ba trăm chữ trở lên.
34
Kinh nghĩa là một loại cổ văn, gồm tám vế khác nhau, cũng có
khi được gọi là bát cổ. Khoa cử xưa thường bắt sĩ tử dùng thể văn
này để viết một bài giải nghĩa các sách kinh điển của Nho học. Để
làm được một bài Kinh nghĩa, sĩ tử phải thuộc thật nhiều kinh sách
và điển tích, đồng thời lại phải sử dụng thành thạo thể văn này.
35
Kỳ thứ hai là thi Chế, Chiếu và Biểu. Đây là
ba loại văn kiện đặc biệt mà các bậc đế, vương
thường vẫn ủy thác cho quan văn trong triều soạn
thảo. Để có thể đảm trách công việc này, họ phải
tập viết ngay khi còn là học trò. Chế và Chiếu là
văn kiện do hoàng đế ban ra, còn Biểu là văn kiện
của vua chư hầu dâng lên hoàng đế.
36
Kỳ thứ ba là thi Thơ và Phú. Hẳn nhiên, Thơ
nói đến ở đây là thơ làm theo niêm luật cổ còn
Phú là một thể văn cổ, nay hầu như chẳng còn ai
sáng tác văn học bằng thể loại này nữa. Chúng ta
chỉ có thể nhận diện thể Phú một cách dễ dàng
qua kho tàng tác phẩm vãn học cổ điển của dân
tộc mà thôi. Điều may mắn là kho tàng này hiện
vẫn còn rất lớn.
37
Kỳ thứ tư là thi Văn sách. Đại để, cũng có thể tạm ví Văn sách
với một bài nghị luận chính trị, được viết dưới dạng trả lời một
vấn đề cụ thể của đề thi. Bấy giờ, mỗi bài Văn sách cũng có những
quy định về cách viết rất riêng. Chúng ta có thể nhận biết điều
này qua kho tàng văn học cổ điển như đã nói ở trên.
Bài thi Hương thời Lê.
38
Ảnh: Đức Hòa
Tất cả những người vượt qua được bốn kỳ làm bài là những
người chính thức đỗ trường Hương. Họ được ban học vị Hương
cống hay Cống sĩ. Dân gian gọi họ là ông Cống. Khi yết bảng,
tên tuổi của những người này được viết trên một tấm bảng riêng
mà bảng ấy bao giờ cũng có hình vẽ con cọp, cho nên cũng gọi
là Hổ bảng.
39
Xét rằng những người đi thi Hương đã đỗ được ba kỳ vào đến
kỳ thứ tư mới hỏng, nếu đánh hỏng họ thì kể cũng không đang
tâm, bởi vậy triều đình mới lấy đỗ vớt. Những người đỗ vớt được
ban học vị Sinh đồ. Tên những người đỗ Sinh đồ được yết lên một
tấm bảng riêng. Bảng ấy bao giờ cũng có vẽ hình cành mai, cho
nên được gọi là Mai bảng.
40
Tất cả các học vị ban cho người đỗ đạt tại trường Hương, đến
năm Kỷ Sửu (1829) đều được vua Minh Mạng thay đổi. Hương
cống hay Cống sĩ thì đổi gọi là Cử nhân, còn Sinh đồ thì đổi gọi là
Tú tài. Như vậy, Cống sĩ và Hương cống (hay Cử nhân) với Sinh
đồ (hay Tú tài) là hai cấp đỗ của cùng một khoa thi chứ không
phải là của hai cấp đào tạo cao thấp khác nhau như hiện nay.
41
Người đỗ Sinh đồ (hay Tú tài) lần sau muốn đi thi nữa thì phải
thi lại ở trường Hương. Nếu không may bị hỏng ở ngay kỳ làm
bài thứ nhất thì vẫn được giữ nguyên học vị Sinh đồ (hay Tú tài).
Có người thi mãi mà vẫn chỉ đỗ có Sinh đồ mà thôi nên dân gian
thường gọi những người ấy là Tú Kép (đỗ hai lần), Tú Đụp (đỗ
ba lần), Tú Mền (đỗ bốn lần)...
42
Không thấy sử cũ chép thời Lê sơ ai là người đỗ Sinh đồ nhiều
lần nhất, nhưng vào thời Nguyễn, người không ai có thể sánh trong
lĩnh vực này là Phan Thúc Trực (1808-1852), người làng Vân Tụ,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông từng mười lần đỗ... Tú tài,
vì thế dân địa phương gọi ông là Tú Mười. Vua Thiệu Trị (18411847) đã phải cảm phục mà đặc cách cho ông làm Cống sinh (tức
là tương đương với Cử nhân). Năm 1847, ông đỗ Thám hoa. Từ
đó, dân địa phương thường gọi ông là ông Thám Mười.
43
Thường thì ngay sau năm thi Hương là thi Hội. Khác với thi
Hương, thi Hội thời Lê sơ luôn được tổ chức tại kinh thành Thăng
Long. Vì thế, những ngày các Cống sĩ đi thi Hội thường được gọi
là những ngày lai kinh ứng thí (đến kinh dự thi). Chịu trách nhiệm
tổ chức các khoa thi Hội là bộ Lễ, do đó thi Hội cũng gọi là Lễ Vi.
44
Tuy tổ chức tại kinh đô Thăng Long nhưng nơi thi Hội cũng
chẳng khác gì trường Hương. Cũng bãi đất trống với hàng rào
bốn phía, cũng quán xá và nhà trọ chung quanh, cũng lôi thôi
lều chõng... Dấu vết xưa của trường thi Hội tại kinh thành Thăng
Long được lưu giữ cho đến ngày hôm nay chỉ là tên một đường
phố: phố Tràng Thi.
Khu vực Tràng Thi đầu thế kỷ XX.
Ảnh: TL
45
Thi Hội cũng gồm bốn đợt làm bài tương tự như thi Hương,
chỉ có khác là đề thi khó hơn mà thôi. Thời Lê sơ, thi Hội thì chỉ
có đỗ hoặc hỏng chứ không hề có chuyện đỗ vớt như thi Hương.
Tất cả những người đỗ thi Hội đều được gọi là trúng cách và ngay
sau đó, họ phải dự một khoa thi phụ để xác định thứ bậc cao thấp.
46
Sau khi đỗ hai khoa thi chính thức là thi Hương và thi Hội, sĩ
tử được vào dự một khoa thi phụ. Khoa này gọi là Đình thí (thi
Đình) hay Điện thí (thi Điện). Sở dĩ gọi là thi Đình hay thi Điện,
vì khoa thi phụ này được tổ chức ngay tại sân điện của nhà vua.
Người trực tiếp ra đề và lấy đỗ thường cũng chính là nhà vua.
47
Trong trường hợp vua còn nhỏ tuổi, chưa đủ khả năng để đảm
trách công việc thì các bậc từng đỗ đại khoa đang là thầy của vua
sẽ được ủy thác làm công việc này. Thời Lê sơ, vị vua tự đảm trách
công việc này nhiều lần nhất là vua Lê Thánh Tông (1460-1497).
Trong 38 năm ở ngôi, nhà vua đã cho tổ chức 12 khoa thi, lấy
đậu 500 Tiến sĩ.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Ông Nghè ông Cống / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa
sĩ Nguyễn Quang Cảnh. - Tái bản lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
100 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.39).
1. Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa Lam Sơn, 1418-1428 — Sách tranh. I. Trần Bạch
Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Lam Sơn Uprising, 1418-1428 — Pictorical works.
959.70252 — dc 22
O58
LỜI GIỚI THIỆU
Chế độ khoa cử nước ta bắt đầu từ năm 1075 dưới
triều vua Lý Nhân Tông nhưng chỉ khi đến thời Lê sơ
(1428-1527) mới trở nên thịnh đạt, chặt chẽ và chính
quy.
Các triều vua thời Lê sơ đều coi thi cử là cơ sở
tuyển chọn nhân tài, tuyển lựa quan lại. Ở buổi thái
bình thịnh trị được giữ vững, nhà nhà người người đều
dốc chí đèn sách học hành để mong ngày bảng vàng đề
tên. Về phía mình, triều đình Lê sơ cũng đặt ra không
ít những quy định nhằm khuyến khích việc học hành
và thi cử, thể hiện sự quan tâm đến phát triển của giáo
dục nước nhà.
Người xưa đã đã học hành và thi cử ra sao? Câu
trả lời này sẽ được truyền tải trong tập 39 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Ông Nghè ông Cống” phần
lời do Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh
do Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 39
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Theo các tài liệu về khoa cử nước ta còn ghi lại, từ
khoa thi đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919),
các triều đại nước ta đã lấy đỗ tất cả 2896 vị Phó bảng
trở lên. Trong đó, chỉ tính riêng thời Lê sơ đã có 1005
người đỗ từ Tiến sĩ trở lên (thời này chưa có học vị Phó
bảng). Con số này tương đương với số người đỗ đại
khoa dưới thời nhà Mạc (1527-1592) và thời Nguyễn
(1802-1945) cộng lại: 1026 người.
4
Ngày xưa, nói tới trường học trước hết và chủ yếu là nói tới
trường tư. Một viên quan về hưu mở trường dạy học ngay tại tư
dinh của mình. Một người nổi danh hay chữ nhưng chưa đỗ đạt,
mở trường dạy học để vừa kiếm sống, vừa chuẩn bị cho ngày đi
thi. Và một nhà giàu đi đón người hay chữ về dạy cho con em của
mình... Trường học ra đời một cách tự nhiên như vậy.
5
Có những vùng hầu như chẳng một ai hay chữ và cũng không
hề có người nào nổi danh tài học từ nơi khác đến trú ngụ. Con
em những gia đình khá giả của vùng ấy phải lặn lội đến miền xa
xôi để tìm thầy mà học. Người xưa thường gọi hiện tượng này là
“tầm sư học đạo”. Thành tài thật không phải là chuyện dễ dàng.
6
Muốn nhập học trước hết phải trình lễ với thầy. Lễ ấy gồm hai
phần không thể thiếu. Một là lễ vật. Phần này tùy khả năng, miễn
sao tỏ được lòng thành của mình. Hai là lễ nghi. Phần này luôn
được tiến hành với thái độ thực sự cung kính. Cách thi lễ phổ biến
thời ấy là chắp tay xá thầy hoặc là lạy thầy.
7
Người xưa dựa vào độ tuổi để chia học trò thành hai nhóm khác
nhau. Từ khoảng 8 đến 15 tuổi gọi là tiểu tử. Từ 15 tuổi trở lên
gọi là đại nhân. Tuy nhiên, sự phân chia ấy chỉ có ý nghĩa hết sức
tương đối mà thôi. Dưới 15 tuổi mà giỏi vẫn có thể học chung với
lớp của đại nhân, ngược lại, trên 15 tuổi mà mới nhập học thì vẫn
phải học chung với lớp của tiểu tử.
8
Lớp tiểu tử trước hết là học chữ, học sao để có thể đọc
thông, viết thạo và hiểu nghĩa một khối lượng từ vựng
nhất định. Sau mới học đến phép đối, bắt đầu là đối chữ,
kế là đối ý rồi đối câu. Cuối cùng, họ đã có thể tập diễn
đạt được các ý tưởng của mình bằng những đoạn văn chữ
Hán ngắn gọn.
9
Lớp đại nhân là lớp học ở bậc cao. Họ được trang bị kiến thức
về các thể văn, được học các tác phẩm kinh điển của Nho học như
Ngũ kinh (kinh Thư, kinh Thi, kinh Lễ, kinh Dịch và kinh Xuân
Thu), Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh Tử), Bắc
sử (sử Trung Quốc), Bách gia chư tử (sách của các nhà nổi tiếng
ở Trung Quốc thời cổ đại)...
10
Cũng trong lớp đại nhân, những người thông thạo kinh sách,
ứng đối trôi chảy, nắm vững các thể văn và điển tích... thường
được dự các lớp giảng tập đặc biệt. Đó chính là cơ hội để họ thử
tài và làm quen dần với văn chương khoa cử. Ở một chừng mực
nhất định nào đó, có thể ví các lớp giảng tập với các lớp luyện
thi ngày nay.
11
Học trò của bất cứ lớp nào cũng đều là nam giới. Người xưa
cho rằng việc học là việc riêng của đàn ông con trai. Việc của đàn
bà con gái là chợ búa, bếp núc và quán xuyến mọi sự trong nhà
ngoài ruộng. Chỉ một số rất ít con gái của các nhà quyền quý và
những gia đình khá giả mới có thể được học chữ nhưng cũng chỉ
học trong một giới hạn nhất định nào đó và chắc chắn là không
được đi thi.
12
Nội dung được học đầu tiên và nhiều nhất trong mọi nhà trường
là học lễ: lễ giao tiếp trong gia đình, họ hàng và bè bạn; lễ trong
mối quan hệ với thầy học và quan trên; lễ đối với người trong
khắp thiên hạ và cả với muôn đấng thần thánh linh thiêng. Việc
học này để tạo thói quen ứng xử có phép tắc trong cuộc sống, đó
là cơ sở đầu tiên của đạo đức con người. Chẳng phải ngẫu nhiên
mà có câu rằng: Tiên học lễ, hậu học văn.
13
Để quản lý lớp học và để tạo mối quan hệ thuận
tiện giữa thầy và trò, thầy giáo thường chọn một
học trò tin cậy nào đó mà giao cho chức Trưởng
tràng. Đại để, chức Trưởng tràng cũng tương
tự như chức Trưởng lớp ngày nay. Lớp học xưa
thường không đông, nhưng không phải vì thế mà
Trưởng tràng được nhàn rỗi.
14
Việc học là việc rất tốn kém, vì thế, con nhà nghèo hầu như
chẳng mấy ai dám mơ được đến lớp để học. Họ chỉ có thể nấp ở
bên ngoài nghe lén để học lỏm mà thôi. Nhưng nếu là người có
chí thì học lỏm cũng vẫn thành công. Trong khi đó, con em những
gia đình khá giả, nếu không có ý chí bền bỉ, nếu không chịu khổ
chịu kham, cũng khó có thể theo học được lâu. Xưa, có không ít
người phải dở dang việc học là vì vậy.
15
Số người đi học đã ít mà số người có khả năng theo học đến
cùng lại càng ít hơn, do vậy nhà nước thời Lê sơ (và cả các nhà
nước trước đó) đã mạnh dạn miễn sưu dịch cùng một số khoản
đóng góp khác cho học trò. Và để thực sự động viên sĩ tử, thi
thoảng các vua Lê lại ban chiếu khuyến học. Trong xã hội, hai
tiếng học trò cũng được trân trọng chẳng khác gì tên gọi của một
dạng chức sắc.
16
Bởi học tập là một quá trình lâu dài và tốn kém, không ít học
trò lớp trên đã cưới vợ ngay khi còn đi học. Ở thời việc học được
đề cao, các cô gái sẵn sàng chấp nhận khó khăn để được làm vợ
một người có học. Bởi thế, ca dao có câu:
Chẳng tham ruộng cả ao liền
Chỉ ham cái bút, cái nghiên anh đồ.
17
Trong nhiều trường hợp, cả gia đình và họ hàng nhà gái cũng
sẵn sàng góp công góp của cho việc học của chàng rể. Ai cũng
lấy làm hãnh diện nếu con em mình giàu chữ hơn người. Học trò
đi học không phải chỉ là học cho riêng họ, mà còn học cho tất cả
những ai đã tận tâm lo lắng và hào phóng giúp đỡ cho họ.
18
Sau quá trình học tập, các học trò chuẩn bị để đi thi. Lúc này,
họ không còn là học trò nữa mà được gọi chung là những sĩ tử
(như bây giờ ta gọi là các thí sinh). Trước khi đi thi, bất cứ sĩ tử
nào cũng phải viết tờ cung khai tam đại (nghĩa là khai lý lịch ba
đời). Tờ khai đó phải tuyệt đối trung thực. Về sau, giả sử có ai
phát hiện ra sự gian dối thì kẻ khai man sẽ bị nghiêm trị. Nếu đã
đỗ đạt và đã được bổ làm quan thì học vị ấy vẫn bị hủy bỏ, chức
quan ấy vẫn bị thải hồi.
19
Căn cứ vào tờ cung khai tam đại
(và một vài căn cứ khác nữa), triều
đình sẽ loại khỏi danh sách sĩ tử dự
thi là con em của những kẻ phản
nghịch hoặc là con em của những
người làm nghề thấp hèn. Con em
của những kẻ phản nghịch không
được dự thi, tuy có khe khắt nhưng
xem ra cũng là điều tương đối bình
thường ở thời phong kiến.
20
Con em những người làm các nghề bị coi là thấp hèn mà không
được dự thi thì là điều đáng tiếc bởi trong số đó có nhiều người
thực sự tài giỏi. Trong những nghề bị coi là thấp hèn, có nghề hát
xướng. Bấy giờ, người nghệ sĩ bị coi là kẻ mua vui cho thiên hạ,
là xướng ca vô loài mà thôi. Đây là một trong những điểm khác
hẳn giữa quan niệm của người xưa với quan niệm của chúng ta
hiện nay.
21
Có tờ cung khai tam đại rồi, sĩ tử còn phải có thêm tờ bảo kết
hương thí. Tờ này do chức sắc địa phương làm, theo đó thì chức
sắc địa phương phải bảo đảm và cam kết sẽ chịu trách nhiệm trước
phép nước về tư cách và phẩm chất đạo đức của các sĩ tử và gia
đình của họ ở địa phương mình.
22
Cửa ải quan trọng thứ ba mà mọi sĩ tử phải vượt qua trước khi
tới trường thi, đó là cuộc sơ tuyển ở cấp phủ hoặc cấp huyện (tùy
từng địa phương). Tại đây, các quan địa phương sẽ lấy đề thi của
trường Hương các khoa trước cho sĩ tử làm thử, nếu thấy có khả
năng làm được mới cho dự các khoa thi do triều đình mở.
23
Thực ra, việc thi cử bắt đầu có từ năm 1075 dưới thời vua Lý
Nhân Tông và được duy trì suốt cả các triều Lý - Trần sau đó.
Nhưng sang thời Lê sơ mới có những quy định rõ ràng và cụ thể.
Có ba khoa thi gồm hai khoa chính là thi Hương và thi Hội, còn
một khoa phụ là thi Đình hay còn gọi là thi Điện. Học trò phải đậu
được khoa thi Hương mới được đi thi Hội và đậu khoa thi Hội mới
vào khoa thi Đình. Khó khăn của các khoa thi được người xưa ví
như cá chép phải trải ba lần vượt thác ở Vũ Môn để được hóa rồng.
24
Khoa thi Hương đầu tiên trong lịch sử thi cử Nho học ở nước
ta được tổ chức vào năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ tư
(1296), thời vua Trần Anh Tông (1293-1329). Trải hơn trăm năm,
đến thời Lê sơ, thi Hương đã trở nên rất quen thuộc đối với sĩ tử
nước ta, chỉ tiếc là sử sách không cho biết rõ bấy giờ nước ta có
tất cả bao nhiêu trường thi Hương.
25
Thời vua Lê Thái Tổ (1429-1433), cứ đúng lệ ba năm triều đình
tổ chức một khoa thi Hương và ngay sau đó là thi Hội. Nhưng,
thời Lê Thái Tông (1433-1442) và Lê Nhân Tông (1442-1459) thì
phải đến sáu năm mới có một khoa thi. Tới thời Lê Thánh Tông
(1460-1497), chẳng những lệ thi Hương ba năm một lần được phục
hồi mà số người lấy đỗ trong mỗi khoa cũng rất đông.
26
Hai tiếng trường thi dễ khiến cho người đời sau ngỡ rằng đó
là một nơi có sẵn nhà cửa và phòng ốc, nhưng sự thực lại không
phải vậy. Bấy giờ, người ta chọn sẵn một khu đất rộng mà bằng
phẳng để đến kỳ thì tổ chức thi. Chung quanh khu đất ấy thường
có cả nhà trọ và quán xá để sĩ tử có thể thuê mà ăn nghỉ trong
suốt thời gian đi thi.
27
Khi có khoa thi toàn bộ khu đất ấy được rào kín, chỉ chừa bốn
hoặc cũng có khi là tám cửa ra vào. Đất trong trường thi được chia
thành từng khoảnh gọi là vi, thường mỗi trường thi có bốn vi như
vậy. Ở giữa, người ta dựng lên một vài căn nhà lá dùng cho quan
coi thi và chấm thi ở tạm. Mọi thứ cần dùng đều được chuẩn bị
và để sẵn ở trong đó để phục vụ cho các vị quan này trong suốt
thời gian ở trường thi.
28
29
Trước ngày thi, sĩ tử được gọi tên để vào nhận chỗ trong từng
vi và ngay sau khi nhận chỗ, họ phải đem lều đến dựng. Lều ấy có
lẽ thường làm bằng những tấm cót để mang đi cho nhẹ. Nó có tác
dụng che mưa, che nắng, che gió và cả để che những cặp mắt ưa
nhìn bài của người khác nữa. Trong lều có một chiếc chõng nhỏ
để ngồi viết cũng là để nằm nghỉ giữa giờ làm bài vì thời gian thi
không phải chỉ một hai tiếng như bây giờ.
30
Sĩ tử dựng lều và đặt chõng xong, các quan phải cùng nhau đi
kiểm tra từng lều một. Họ coi xét từng khe nhỏ trong lều và trong
chõng, kiểm soát từng dấu đất để xem sĩ tử có giấu hoặc bí mật
chôn tài liệu trong lều không. Việc làm cẩn thận này đã bảo đảm
cho các khoa thi được tiến hành một cách rất nghiêm túc.
31
Bấy giờ, nếu sĩ tử nào cố ý gian lận thì chẳng những bị đuổi ra
khỏi trường thi mà có khi còn bị xử tội rất nặng. Nếu quan trường
không phát hiện được mà sau đó có người biết rồi tố cáo, thì chính
quan trường cũng sẽ bị xử tội. Lại cũng để tránh sự thông đồng
giữa quan trường với sĩ tử, việc coi thi thường chủ yếu là giao
cho các võ quan.
32
Mỗi khoa thi Hương thường kéo dài trên mười ngày, chia làm
bốn đợt làm bài khác nhau, mỗi đợt như vậy gọi là một kỳ hoặc
một trường. Chỉ những ai đỗ kỳ thứ nhất mới được vào thi tiếp
kỳ thứ hai, chỉ những ai đỗ kỳ thứ hai mới được vào thi tiếp kỳ
thứ ba và cũng chỉ những ai đỗ kỳ thứ ba mới được vào
thi tiếp kỳ thứ tư. Đỗ đủ cả bốn kỳ mới thực sự là
người đỗ trường Hương.
33
Lệ thi Hương năm Mậu Ngọ dưới thời Lê Thái Tông, niên hiệu
Thiệu Bình thứ năm (1438), quy định các kỳ làm bài cụ thể như
sau: kỳ thứ nhất thi Kinh nghĩa, đề thi được chọn từ các sách Luận
ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh Tử, mỗi sách chọn một bài
làm đầu đề và bài chọn làm đầu đề phải dài từ ba trăm chữ trở lên.
34
Kinh nghĩa là một loại cổ văn, gồm tám vế khác nhau, cũng có
khi được gọi là bát cổ. Khoa cử xưa thường bắt sĩ tử dùng thể văn
này để viết một bài giải nghĩa các sách kinh điển của Nho học. Để
làm được một bài Kinh nghĩa, sĩ tử phải thuộc thật nhiều kinh sách
và điển tích, đồng thời lại phải sử dụng thành thạo thể văn này.
35
Kỳ thứ hai là thi Chế, Chiếu và Biểu. Đây là
ba loại văn kiện đặc biệt mà các bậc đế, vương
thường vẫn ủy thác cho quan văn trong triều soạn
thảo. Để có thể đảm trách công việc này, họ phải
tập viết ngay khi còn là học trò. Chế và Chiếu là
văn kiện do hoàng đế ban ra, còn Biểu là văn kiện
của vua chư hầu dâng lên hoàng đế.
36
Kỳ thứ ba là thi Thơ và Phú. Hẳn nhiên, Thơ
nói đến ở đây là thơ làm theo niêm luật cổ còn
Phú là một thể văn cổ, nay hầu như chẳng còn ai
sáng tác văn học bằng thể loại này nữa. Chúng ta
chỉ có thể nhận diện thể Phú một cách dễ dàng
qua kho tàng tác phẩm vãn học cổ điển của dân
tộc mà thôi. Điều may mắn là kho tàng này hiện
vẫn còn rất lớn.
37
Kỳ thứ tư là thi Văn sách. Đại để, cũng có thể tạm ví Văn sách
với một bài nghị luận chính trị, được viết dưới dạng trả lời một
vấn đề cụ thể của đề thi. Bấy giờ, mỗi bài Văn sách cũng có những
quy định về cách viết rất riêng. Chúng ta có thể nhận biết điều
này qua kho tàng văn học cổ điển như đã nói ở trên.
Bài thi Hương thời Lê.
38
Ảnh: Đức Hòa
Tất cả những người vượt qua được bốn kỳ làm bài là những
người chính thức đỗ trường Hương. Họ được ban học vị Hương
cống hay Cống sĩ. Dân gian gọi họ là ông Cống. Khi yết bảng,
tên tuổi của những người này được viết trên một tấm bảng riêng
mà bảng ấy bao giờ cũng có hình vẽ con cọp, cho nên cũng gọi
là Hổ bảng.
39
Xét rằng những người đi thi Hương đã đỗ được ba kỳ vào đến
kỳ thứ tư mới hỏng, nếu đánh hỏng họ thì kể cũng không đang
tâm, bởi vậy triều đình mới lấy đỗ vớt. Những người đỗ vớt được
ban học vị Sinh đồ. Tên những người đỗ Sinh đồ được yết lên một
tấm bảng riêng. Bảng ấy bao giờ cũng có vẽ hình cành mai, cho
nên được gọi là Mai bảng.
40
Tất cả các học vị ban cho người đỗ đạt tại trường Hương, đến
năm Kỷ Sửu (1829) đều được vua Minh Mạng thay đổi. Hương
cống hay Cống sĩ thì đổi gọi là Cử nhân, còn Sinh đồ thì đổi gọi là
Tú tài. Như vậy, Cống sĩ và Hương cống (hay Cử nhân) với Sinh
đồ (hay Tú tài) là hai cấp đỗ của cùng một khoa thi chứ không
phải là của hai cấp đào tạo cao thấp khác nhau như hiện nay.
41
Người đỗ Sinh đồ (hay Tú tài) lần sau muốn đi thi nữa thì phải
thi lại ở trường Hương. Nếu không may bị hỏng ở ngay kỳ làm
bài thứ nhất thì vẫn được giữ nguyên học vị Sinh đồ (hay Tú tài).
Có người thi mãi mà vẫn chỉ đỗ có Sinh đồ mà thôi nên dân gian
thường gọi những người ấy là Tú Kép (đỗ hai lần), Tú Đụp (đỗ
ba lần), Tú Mền (đỗ bốn lần)...
42
Không thấy sử cũ chép thời Lê sơ ai là người đỗ Sinh đồ nhiều
lần nhất, nhưng vào thời Nguyễn, người không ai có thể sánh trong
lĩnh vực này là Phan Thúc Trực (1808-1852), người làng Vân Tụ,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông từng mười lần đỗ... Tú tài,
vì thế dân địa phương gọi ông là Tú Mười. Vua Thiệu Trị (18411847) đã phải cảm phục mà đặc cách cho ông làm Cống sinh (tức
là tương đương với Cử nhân). Năm 1847, ông đỗ Thám hoa. Từ
đó, dân địa phương thường gọi ông là ông Thám Mười.
43
Thường thì ngay sau năm thi Hương là thi Hội. Khác với thi
Hương, thi Hội thời Lê sơ luôn được tổ chức tại kinh thành Thăng
Long. Vì thế, những ngày các Cống sĩ đi thi Hội thường được gọi
là những ngày lai kinh ứng thí (đến kinh dự thi). Chịu trách nhiệm
tổ chức các khoa thi Hội là bộ Lễ, do đó thi Hội cũng gọi là Lễ Vi.
44
Tuy tổ chức tại kinh đô Thăng Long nhưng nơi thi Hội cũng
chẳng khác gì trường Hương. Cũng bãi đất trống với hàng rào
bốn phía, cũng quán xá và nhà trọ chung quanh, cũng lôi thôi
lều chõng... Dấu vết xưa của trường thi Hội tại kinh thành Thăng
Long được lưu giữ cho đến ngày hôm nay chỉ là tên một đường
phố: phố Tràng Thi.
Khu vực Tràng Thi đầu thế kỷ XX.
Ảnh: TL
45
Thi Hội cũng gồm bốn đợt làm bài tương tự như thi Hương,
chỉ có khác là đề thi khó hơn mà thôi. Thời Lê sơ, thi Hội thì chỉ
có đỗ hoặc hỏng chứ không hề có chuyện đỗ vớt như thi Hương.
Tất cả những người đỗ thi Hội đều được gọi là trúng cách và ngay
sau đó, họ phải dự một khoa thi phụ để xác định thứ bậc cao thấp.
46
Sau khi đỗ hai khoa thi chính thức là thi Hương và thi Hội, sĩ
tử được vào dự một khoa thi phụ. Khoa này gọi là Đình thí (thi
Đình) hay Điện thí (thi Điện). Sở dĩ gọi là thi Đình hay thi Điện,
vì khoa thi phụ này được tổ chức ngay tại sân điện của nhà vua.
Người trực tiếp ra đề và lấy đỗ thường cũng chính là nhà vua.
47
Trong trường hợp vua còn nhỏ tuổi, chưa đủ khả năng để đảm
trách công việc thì các bậc từng đỗ đại khoa đang là thầy của vua
sẽ được ủy thác làm công việc này. Thời Lê sơ, vị vua tự đảm trách
công việc này nhiều lần nhất là vua Lê Thánh Tông (1460-1497).
Trong 38 năm ở ngôi, nhà vua đã cho tổ chức 12 khoa thi, lấy
đậu 500 Tiến sĩ.
48
 





