DANH NGÔN HAY

Thế giới vô cùng vĩ đại. Cặp mắt của bạn chỉ thấy được một phần nhỏ bé không đáng kể. Bởi vậy bạn hãy tìm lấy các sự kiện ở trong sách. Hãy tích lũy đều đặn hàng ngày các sự kiện ấy (V.Ôbrưsép)

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

TRUYỆN ĐỌC TRONG SÁCH- SƯU TẦM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Tết Nguyên Đán Việt Nam là dịp thiêng liêng để đoàn viên gia đình, tưởng nhớ tổ tiên và cội nguồn, bày tỏ lòng biết ơn thần linh, đồng thời là biểu tượng cho sự khởi đầu mới, hy vọng vào một năm mới an khang, thịnh vượng, gác lại điều không may của năm cũ. Tết là khoảnh khắc giao hòa giữa trời đất và con người, kết nối tình thân và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7335251847973_c5b30c35eb97fd3fde3a79879c2e83de.jpg Z7335251844968_bd489058fb43609505e3dbaac950ff13.jpg Z7335251836670_666ae0c6c91f8438f1a22e7d77edaf7f.jpg Z6067290810969_47c663cf604de88cf7dcc2c5578ec3e9.jpg Z6067291122052_976a842e05b1b8bd975bfd109e4e19a7.jpg Z6067291084678_b84ce716530d124b22147ff4563e56ae.jpg Z6067291046006_12a3bc33c27e7e40da56c0468d75aeee.jpg Z6067290850285_f5c10e744efd9d7ad7c598fa581d6c3c.jpg Z6067290897032_b7e7259d00c2f5978d7df2d2f5291778.jpg Z6005308826541_12443e8511cded7ef1871640f4ac1219.jpg Z6004171842078_9434c665b229556e27ee1772c88a063c.jpg NOI_QUY_THU_VIEN_THAN_THIEN.jpg Z5333306881754_a1561a05582913f3daea635b8127ce7b.jpg Z5333306883294_4b97b2891e0b5f95efbefc7e17eeac39.jpg Z5333306887652_437c5bace3ec71df1d035cbf253cfdd8.jpg Z5333306905338_98546da46d9a2597a4f12a6d0df589e8.jpg BANG_HUONG_DAN_GIAO_VIEN_HOC_SINH_DOC_MUON_TAI_LIEU_THU_VIEN.png Z5253442852629_1a4c549fb60469f32cf51fa3aaf69085.jpg Anh1.jpg Z5253442852007_0811db2ba172f3b64db214ca84a24dfe.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SGV-SÁCH HAY SƯU TẦM

    SÁCH NÓI - SƯU TẦM

    BẢN TIN

    CHÀO MỪNG the marquee trong HTML Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, chấm dứt khủng hoảng về đường lối cách mạng và mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1 VÀ THÁNG 2/2026

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11: MỘT THỜI BỤI PHẤN

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    STN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Internet
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 05h:34' 13-12-2024
    Dung lượng: 6.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ nhất

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
    Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Ông Nghè ông Cống / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa
    sĩ Nguyễn Quang Cảnh. - Tái bản lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
    100 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.39).
    1. Việt Nam — Lịch sử — Khởi nghĩa Lam Sơn, 1418-1428 — Sách tranh. I. Trần Bạch
    Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam — History — Lam Sơn Uprising, 1418-1428 — Pictorical works.
    959.70252 — dc 22
    O58

    LỜI GIỚI THIỆU

    Chế độ khoa cử nước ta bắt đầu từ năm 1075 dưới
    triều vua Lý Nhân Tông nhưng chỉ khi đến thời Lê sơ
    (1428-1527) mới trở nên thịnh đạt, chặt chẽ và chính
    quy.
    Các triều vua thời Lê sơ đều coi thi cử là cơ sở
    tuyển chọn nhân tài, tuyển lựa quan lại. Ở buổi thái
    bình thịnh trị được giữ vững, nhà nhà người người đều
    dốc chí đèn sách học hành để mong ngày bảng vàng đề
    tên. Về phía mình, triều đình Lê sơ cũng đặt ra không
    ít những quy định nhằm khuyến khích việc học hành
    và thi cử, thể hiện sự quan tâm đến phát triển của giáo
    dục nước nhà.
    Người xưa đã đã học hành và thi cử ra sao? Câu
    trả lời này sẽ được truyền tải trong tập 39 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh “Ông Nghè ông Cống” phần
    lời do Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh
    do Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 39
    của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Theo các tài liệu về khoa cử nước ta còn ghi lại, từ
    khoa thi đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919),
    các triều đại nước ta đã lấy đỗ tất cả 2896 vị Phó bảng
    trở lên. Trong đó, chỉ tính riêng thời Lê sơ đã có 1005
    người đỗ từ Tiến sĩ trở lên (thời này chưa có học vị Phó
    bảng). Con số này tương đương với số người đỗ đại
    khoa dưới thời nhà Mạc (1527-1592) và thời Nguyễn
    (1802-1945) cộng lại: 1026 người.

    4

    Ngày xưa, nói tới trường học trước hết và chủ yếu là nói tới
    trường tư. Một viên quan về hưu mở trường dạy học ngay tại tư
    dinh của mình. Một người nổi danh hay chữ nhưng chưa đỗ đạt,
    mở trường dạy học để vừa kiếm sống, vừa chuẩn bị cho ngày đi
    thi. Và một nhà giàu đi đón người hay chữ về dạy cho con em của
    mình... Trường học ra đời một cách tự nhiên như vậy.
    5

    Có những vùng hầu như chẳng một ai hay chữ và cũng không
    hề có người nào nổi danh tài học từ nơi khác đến trú ngụ. Con
    em những gia đình khá giả của vùng ấy phải lặn lội đến miền xa
    xôi để tìm thầy mà học. Người xưa thường gọi hiện tượng này là
    “tầm sư học đạo”. Thành tài thật không phải là chuyện dễ dàng.

    6

    Muốn nhập học trước hết phải trình lễ với thầy. Lễ ấy gồm hai
    phần không thể thiếu. Một là lễ vật. Phần này tùy khả năng, miễn
    sao tỏ được lòng thành của mình. Hai là lễ nghi. Phần này luôn
    được tiến hành với thái độ thực sự cung kính. Cách thi lễ phổ biến
    thời ấy là chắp tay xá thầy hoặc là lạy thầy.
    7

    Người xưa dựa vào độ tuổi để chia học trò thành hai nhóm khác
    nhau. Từ khoảng 8 đến 15 tuổi gọi là tiểu tử. Từ 15 tuổi trở lên
    gọi là đại nhân. Tuy nhiên, sự phân chia ấy chỉ có ý nghĩa hết sức
    tương đối mà thôi. Dưới 15 tuổi mà giỏi vẫn có thể học chung với
    lớp của đại nhân, ngược lại, trên 15 tuổi mà mới nhập học thì vẫn
    phải học chung với lớp của tiểu tử.

    8

    Lớp tiểu tử trước hết là học chữ, học sao để có thể đọc
    thông, viết thạo và hiểu nghĩa một khối lượng từ vựng
    nhất định. Sau mới học đến phép đối, bắt đầu là đối chữ,
    kế là đối ý rồi đối câu. Cuối cùng, họ đã có thể tập diễn
    đạt được các ý tưởng của mình bằng những đoạn văn chữ
    Hán ngắn gọn.

    9

    Lớp đại nhân là lớp học ở bậc cao. Họ được trang bị kiến thức
    về các thể văn, được học các tác phẩm kinh điển của Nho học như
    Ngũ kinh (kinh Thư, kinh Thi, kinh Lễ, kinh Dịch và kinh Xuân
    Thu), Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh Tử), Bắc
    sử (sử Trung Quốc), Bách gia chư tử (sách của các nhà nổi tiếng
    ở Trung Quốc thời cổ đại)...

    10

    Cũng trong lớp đại nhân, những người thông thạo kinh sách,
    ứng đối trôi chảy, nắm vững các thể văn và điển tích... thường
    được dự các lớp giảng tập đặc biệt. Đó chính là cơ hội để họ thử
    tài và làm quen dần với văn chương khoa cử. Ở một chừng mực
    nhất định nào đó, có thể ví các lớp giảng tập với các lớp luyện
    thi ngày nay.
    11

    Học trò của bất cứ lớp nào cũng đều là nam giới. Người xưa
    cho rằng việc học là việc riêng của đàn ông con trai. Việc của đàn
    bà con gái là chợ búa, bếp núc và quán xuyến mọi sự trong nhà
    ngoài ruộng. Chỉ một số rất ít con gái của các nhà quyền quý và
    những gia đình khá giả mới có thể được học chữ nhưng cũng chỉ
    học trong một giới hạn nhất định nào đó và chắc chắn là không
    được đi thi.
    12

    Nội dung được học đầu tiên và nhiều nhất trong mọi nhà trường
    là học lễ: lễ giao tiếp trong gia đình, họ hàng và bè bạn; lễ trong
    mối quan hệ với thầy học và quan trên; lễ đối với người trong
    khắp thiên hạ và cả với muôn đấng thần thánh linh thiêng. Việc
    học này để tạo thói quen ứng xử có phép tắc trong cuộc sống, đó
    là cơ sở đầu tiên của đạo đức con người. Chẳng phải ngẫu nhiên
    mà có câu rằng: Tiên học lễ, hậu học văn.
    13

    Để quản lý lớp học và để tạo mối quan hệ thuận
    tiện giữa thầy và trò, thầy giáo thường chọn một
    học trò tin cậy nào đó mà giao cho chức Trưởng
    tràng. Đại để, chức Trưởng tràng cũng tương
    tự như chức Trưởng lớp ngày nay. Lớp học xưa
    thường không đông, nhưng không phải vì thế mà
    Trưởng tràng được nhàn rỗi.

    14

    Việc học là việc rất tốn kém, vì thế, con nhà nghèo hầu như
    chẳng mấy ai dám mơ được đến lớp để học. Họ chỉ có thể nấp ở
    bên ngoài nghe lén để học lỏm mà thôi. Nhưng nếu là người có
    chí thì học lỏm cũng vẫn thành công. Trong khi đó, con em những
    gia đình khá giả, nếu không có ý chí bền bỉ, nếu không chịu khổ
    chịu kham, cũng khó có thể theo học được lâu. Xưa, có không ít
    người phải dở dang việc học là vì vậy.
    15

    Số người đi học đã ít mà số người có khả năng theo học đến
    cùng lại càng ít hơn, do vậy nhà nước thời Lê sơ (và cả các nhà
    nước trước đó) đã mạnh dạn miễn sưu dịch cùng một số khoản
    đóng góp khác cho học trò. Và để thực sự động viên sĩ tử, thi
    thoảng các vua Lê lại ban chiếu khuyến học. Trong xã hội, hai
    tiếng học trò cũng được trân trọng chẳng khác gì tên gọi của một
    dạng chức sắc.
    16

    Bởi học tập là một quá trình lâu dài và tốn kém, không ít học
    trò lớp trên đã cưới vợ ngay khi còn đi học. Ở thời việc học được
    đề cao, các cô gái sẵn sàng chấp nhận khó khăn để được làm vợ
    một người có học. Bởi thế, ca dao có câu:
    Chẳng tham ruộng cả ao liền
    Chỉ ham cái bút, cái nghiên anh đồ.

    17

    Trong nhiều trường hợp, cả gia đình và họ hàng nhà gái cũng
    sẵn sàng góp công góp của cho việc học của chàng rể. Ai cũng
    lấy làm hãnh diện nếu con em mình giàu chữ hơn người. Học trò
    đi học không phải chỉ là học cho riêng họ, mà còn học cho tất cả
    những ai đã tận tâm lo lắng và hào phóng giúp đỡ cho họ.

    18

    Sau quá trình học tập, các học trò chuẩn bị để đi thi. Lúc này,
    họ không còn là học trò nữa mà được gọi chung là những sĩ tử
    (như bây giờ ta gọi là các thí sinh). Trước khi đi thi, bất cứ sĩ tử
    nào cũng phải viết tờ cung khai tam đại (nghĩa là khai lý lịch ba
    đời). Tờ khai đó phải tuyệt đối trung thực. Về sau, giả sử có ai
    phát hiện ra sự gian dối thì kẻ khai man sẽ bị nghiêm trị. Nếu đã
    đỗ đạt và đã được bổ làm quan thì học vị ấy vẫn bị hủy bỏ, chức
    quan ấy vẫn bị thải hồi.

    19

    Căn cứ vào tờ cung khai tam đại
    (và một vài căn cứ khác nữa), triều
    đình sẽ loại khỏi danh sách sĩ tử dự
    thi là con em của những kẻ phản
    nghịch hoặc là con em của những
    người làm nghề thấp hèn. Con em
    của những kẻ phản nghịch không
    được dự thi, tuy có khe khắt nhưng
    xem ra cũng là điều tương đối bình
    thường ở thời phong kiến.

    20

    Con em những người làm các nghề bị coi là thấp hèn mà không
    được dự thi thì là điều đáng tiếc bởi trong số đó có nhiều người
    thực sự tài giỏi. Trong những nghề bị coi là thấp hèn, có nghề hát
    xướng. Bấy giờ, người nghệ sĩ bị coi là kẻ mua vui cho thiên hạ,
    là xướng ca vô loài mà thôi. Đây là một trong những điểm khác
    hẳn giữa quan niệm của người xưa với quan niệm của chúng ta
    hiện nay.
    21

    Có tờ cung khai tam đại rồi, sĩ tử còn phải có thêm tờ bảo kết
    hương thí. Tờ này do chức sắc địa phương làm, theo đó thì chức
    sắc địa phương phải bảo đảm và cam kết sẽ chịu trách nhiệm trước
    phép nước về tư cách và phẩm chất đạo đức của các sĩ tử và gia
    đình của họ ở địa phương mình.
    22

    Cửa ải quan trọng thứ ba mà mọi sĩ tử phải vượt qua trước khi
    tới trường thi, đó là cuộc sơ tuyển ở cấp phủ hoặc cấp huyện (tùy
    từng địa phương). Tại đây, các quan địa phương sẽ lấy đề thi của
    trường Hương các khoa trước cho sĩ tử làm thử, nếu thấy có khả
    năng làm được mới cho dự các khoa thi do triều đình mở.
    23

    Thực ra, việc thi cử bắt đầu có từ năm 1075 dưới thời vua Lý
    Nhân Tông và được duy trì suốt cả các triều Lý - Trần sau đó.
    Nhưng sang thời Lê sơ mới có những quy định rõ ràng và cụ thể.
    Có ba khoa thi gồm hai khoa chính là thi Hương và thi Hội, còn
    một khoa phụ là thi Đình hay còn gọi là thi Điện. Học trò phải đậu
    được khoa thi Hương mới được đi thi Hội và đậu khoa thi Hội mới
    vào khoa thi Đình. Khó khăn của các khoa thi được người xưa ví
    như cá chép phải trải ba lần vượt thác ở Vũ Môn để được hóa rồng.

    24

    Khoa thi Hương đầu tiên trong lịch sử thi cử Nho học ở nước
    ta được tổ chức vào năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ tư
    (1296), thời vua Trần Anh Tông (1293-1329). Trải hơn trăm năm,
    đến thời Lê sơ, thi Hương đã trở nên rất quen thuộc đối với sĩ tử
    nước ta, chỉ tiếc là sử sách không cho biết rõ bấy giờ nước ta có
    tất cả bao nhiêu trường thi Hương.

    25

    Thời vua Lê Thái Tổ (1429-1433), cứ đúng lệ ba năm triều đình
    tổ chức một khoa thi Hương và ngay sau đó là thi Hội. Nhưng,
    thời Lê Thái Tông (1433-1442) và Lê Nhân Tông (1442-1459) thì
    phải đến sáu năm mới có một khoa thi. Tới thời Lê Thánh Tông
    (1460-1497), chẳng những lệ thi Hương ba năm một lần được phục
    hồi mà số người lấy đỗ trong mỗi khoa cũng rất đông.

    26

    Hai tiếng trường thi dễ khiến cho người đời sau ngỡ rằng đó
    là một nơi có sẵn nhà cửa và phòng ốc, nhưng sự thực lại không
    phải vậy. Bấy giờ, người ta chọn sẵn một khu đất rộng mà bằng
    phẳng để đến kỳ thì tổ chức thi. Chung quanh khu đất ấy thường
    có cả nhà trọ và quán xá để sĩ tử có thể thuê mà ăn nghỉ trong
    suốt thời gian đi thi.

    27

    Khi có khoa thi toàn bộ khu đất ấy được rào kín, chỉ chừa bốn
    hoặc cũng có khi là tám cửa ra vào. Đất trong trường thi được chia
    thành từng khoảnh gọi là vi, thường mỗi trường thi có bốn vi như
    vậy. Ở giữa, người ta dựng lên một vài căn nhà lá dùng cho quan
    coi thi và chấm thi ở tạm. Mọi thứ cần dùng đều được chuẩn bị
    và để sẵn ở trong đó để phục vụ cho các vị quan này trong suốt
    thời gian ở trường thi.
    28

    29

    Trước ngày thi, sĩ tử được gọi tên để vào nhận chỗ trong từng
    vi và ngay sau khi nhận chỗ, họ phải đem lều đến dựng. Lều ấy có
    lẽ thường làm bằng những tấm cót để mang đi cho nhẹ. Nó có tác
    dụng che mưa, che nắng, che gió và cả để che những cặp mắt ưa
    nhìn bài của người khác nữa. Trong lều có một chiếc chõng nhỏ
    để ngồi viết cũng là để nằm nghỉ giữa giờ làm bài vì thời gian thi
    không phải chỉ một hai tiếng như bây giờ.

    30

    Sĩ tử dựng lều và đặt chõng xong, các quan phải cùng nhau đi
    kiểm tra từng lều một. Họ coi xét từng khe nhỏ trong lều và trong
    chõng, kiểm soát từng dấu đất để xem sĩ tử có giấu hoặc bí mật
    chôn tài liệu trong lều không. Việc làm cẩn thận này đã bảo đảm
    cho các khoa thi được tiến hành một cách rất nghiêm túc.

    31

    Bấy giờ, nếu sĩ tử nào cố ý gian lận thì chẳng những bị đuổi ra
    khỏi trường thi mà có khi còn bị xử tội rất nặng. Nếu quan trường
    không phát hiện được mà sau đó có người biết rồi tố cáo, thì chính
    quan trường cũng sẽ bị xử tội. Lại cũng để tránh sự thông đồng
    giữa quan trường với sĩ tử, việc coi thi thường chủ yếu là giao
    cho các võ quan.

    32

    Mỗi khoa thi Hương thường kéo dài trên mười ngày, chia làm
    bốn đợt làm bài khác nhau, mỗi đợt như vậy gọi là một kỳ hoặc
    một trường. Chỉ những ai đỗ kỳ thứ nhất mới được vào thi tiếp
    kỳ thứ hai, chỉ những ai đỗ kỳ thứ hai mới được vào thi tiếp kỳ
    thứ ba và cũng chỉ những ai đỗ kỳ thứ ba mới được vào
    thi tiếp kỳ thứ tư. Đỗ đủ cả bốn kỳ mới thực sự là
    người đỗ trường Hương.

    33

    Lệ thi Hương năm Mậu Ngọ dưới thời Lê Thái Tông, niên hiệu
    Thiệu Bình thứ năm (1438), quy định các kỳ làm bài cụ thể như
    sau: kỳ thứ nhất thi Kinh nghĩa, đề thi được chọn từ các sách Luận
    ngữ, Đại học, Trung dung và Mạnh Tử, mỗi sách chọn một bài
    làm đầu đề và bài chọn làm đầu đề phải dài từ ba trăm chữ trở lên.

    34

    Kinh nghĩa là một loại cổ văn, gồm tám vế khác nhau, cũng có
    khi được gọi là bát cổ. Khoa cử xưa thường bắt sĩ tử dùng thể văn
    này để viết một bài giải nghĩa các sách kinh điển của Nho học. Để
    làm được một bài Kinh nghĩa, sĩ tử phải thuộc thật nhiều kinh sách
    và điển tích, đồng thời lại phải sử dụng thành thạo thể văn này.
    35

    Kỳ thứ hai là thi Chế, Chiếu và Biểu. Đây là
    ba loại văn kiện đặc biệt mà các bậc đế, vương
    thường vẫn ủy thác cho quan văn trong triều soạn
    thảo. Để có thể đảm trách công việc này, họ phải
    tập viết ngay khi còn là học trò. Chế và Chiếu là
    văn kiện do hoàng đế ban ra, còn Biểu là văn kiện
    của vua chư hầu dâng lên hoàng đế.

    36

    Kỳ thứ ba là thi Thơ và Phú. Hẳn nhiên, Thơ
    nói đến ở đây là thơ làm theo niêm luật cổ còn
    Phú là một thể văn cổ, nay hầu như chẳng còn ai
    sáng tác văn học bằng thể loại này nữa. Chúng ta
    chỉ có thể nhận diện thể Phú một cách dễ dàng
    qua kho tàng tác phẩm vãn học cổ điển của dân
    tộc mà thôi. Điều may mắn là kho tàng này hiện
    vẫn còn rất lớn.
    37

    Kỳ thứ tư là thi Văn sách. Đại để, cũng có thể tạm ví Văn sách
    với một bài nghị luận chính trị, được viết dưới dạng trả lời một
    vấn đề cụ thể của đề thi. Bấy giờ, mỗi bài Văn sách cũng có những
    quy định về cách viết rất riêng. Chúng ta có thể nhận biết điều
    này qua kho tàng văn học cổ điển như đã nói ở trên.

    Bài thi Hương thời Lê.

    38

    Ảnh: Đức Hòa

    Tất cả những người vượt qua được bốn kỳ làm bài là những
    người chính thức đỗ trường Hương. Họ được ban học vị Hương
    cống hay Cống sĩ. Dân gian gọi họ là ông Cống. Khi yết bảng,
    tên tuổi của những người này được viết trên một tấm bảng riêng
    mà bảng ấy bao giờ cũng có hình vẽ con cọp, cho nên cũng gọi
    là Hổ bảng.

    39

    Xét rằng những người đi thi Hương đã đỗ được ba kỳ vào đến
    kỳ thứ tư mới hỏng, nếu đánh hỏng họ thì kể cũng không đang
    tâm, bởi vậy triều đình mới lấy đỗ vớt. Những người đỗ vớt được
    ban học vị Sinh đồ. Tên những người đỗ Sinh đồ được yết lên một
    tấm bảng riêng. Bảng ấy bao giờ cũng có vẽ hình cành mai, cho
    nên được gọi là Mai bảng.

    40

    Tất cả các học vị ban cho người đỗ đạt tại trường Hương, đến
    năm Kỷ Sửu (1829) đều được vua Minh Mạng thay đổi. Hương
    cống hay Cống sĩ thì đổi gọi là Cử nhân, còn Sinh đồ thì đổi gọi là
    Tú tài. Như vậy, Cống sĩ và Hương cống (hay Cử nhân) với Sinh
    đồ (hay Tú tài) là hai cấp đỗ của cùng một khoa thi chứ không
    phải là của hai cấp đào tạo cao thấp khác nhau như hiện nay.
    41

    Người đỗ Sinh đồ (hay Tú tài) lần sau muốn đi thi nữa thì phải
    thi lại ở trường Hương. Nếu không may bị hỏng ở ngay kỳ làm
    bài thứ nhất thì vẫn được giữ nguyên học vị Sinh đồ (hay Tú tài).
    Có người thi mãi mà vẫn chỉ đỗ có Sinh đồ mà thôi nên dân gian
    thường gọi những người ấy là Tú Kép (đỗ hai lần), Tú Đụp (đỗ
    ba lần), Tú Mền (đỗ bốn lần)...
    42

    Không thấy sử cũ chép thời Lê sơ ai là người đỗ Sinh đồ nhiều
    lần nhất, nhưng vào thời Nguyễn, người không ai có thể sánh trong
    lĩnh vực này là Phan Thúc Trực (1808-1852), người làng Vân Tụ,
    huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông từng mười lần đỗ... Tú tài,
    vì thế dân địa phương gọi ông là Tú Mười. Vua Thiệu Trị (18411847) đã phải cảm phục mà đặc cách cho ông làm Cống sinh (tức
    là tương đương với Cử nhân). Năm 1847, ông đỗ Thám hoa. Từ
    đó, dân địa phương thường gọi ông là ông Thám Mười.

    43

    Thường thì ngay sau năm thi Hương là thi Hội. Khác với thi
    Hương, thi Hội thời Lê sơ luôn được tổ chức tại kinh thành Thăng
    Long. Vì thế, những ngày các Cống sĩ đi thi Hội thường được gọi
    là những ngày lai kinh ứng thí (đến kinh dự thi). Chịu trách nhiệm
    tổ chức các khoa thi Hội là bộ Lễ, do đó thi Hội cũng gọi là Lễ Vi.
    44

    Tuy tổ chức tại kinh đô Thăng Long nhưng nơi thi Hội cũng
    chẳng khác gì trường Hương. Cũng bãi đất trống với hàng rào
    bốn phía, cũng quán xá và nhà trọ chung quanh, cũng lôi thôi
    lều chõng... Dấu vết xưa của trường thi Hội tại kinh thành Thăng
    Long được lưu giữ cho đến ngày hôm nay chỉ là tên một đường
    phố: phố Tràng Thi.

    Khu vực Tràng Thi đầu thế kỷ XX.

    Ảnh: TL

    45

    Thi Hội cũng gồm bốn đợt làm bài tương tự như thi Hương,
    chỉ có khác là đề thi khó hơn mà thôi. Thời Lê sơ, thi Hội thì chỉ
    có đỗ hoặc hỏng chứ không hề có chuyện đỗ vớt như thi Hương.
    Tất cả những người đỗ thi Hội đều được gọi là trúng cách và ngay
    sau đó, họ phải dự một khoa thi phụ để xác định thứ bậc cao thấp.

    46

    Sau khi đỗ hai khoa thi chính thức là thi Hương và thi Hội, sĩ
    tử được vào dự một khoa thi phụ. Khoa này gọi là Đình thí (thi
    Đình) hay Điện thí (thi Điện). Sở dĩ gọi là thi Đình hay thi Điện,
    vì khoa thi phụ này được tổ chức ngay tại sân điện của nhà vua.
    Người trực tiếp ra đề và lấy đỗ thường cũng chính là nhà vua.

    47

    Trong trường hợp vua còn nhỏ tuổi, chưa đủ khả năng để đảm
    trách công việc thì các bậc từng đỗ đại khoa đang là thầy của vua
    sẽ được ủy thác làm công việc này. Thời Lê sơ, vị vua tự đảm trách
    công việc này nhiều lần nhất là vua Lê Thánh Tông (1460-1497).
    Trong 38 năm ở ngôi, nhà vua đã cho tổ chức 12 khoa thi, lấy
    đậu 500 Tiến sĩ.

    48
     
    Gửi ý kiến

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 10