BẢN TIN
LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG : LÝ TỰ TRỌNG
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
CĐ TIẾNG VIÊT5

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:26' 13-03-2026
Dung lượng: 878.8 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:26' 13-03-2026
Dung lượng: 878.8 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
`TRƯỜNG TH BẠCH ĐẰNG
LÝ THUYẾT CHUYÊN ĐỀ
TỔ 4 + 5
PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH DẠY HỌC
MÔN TIẾNG VIỆT - LỚP 5 (SÁCH CÁNH DIỀU)
Năm học 2024 - 2025
LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:
Tiếng Việt là môn học có vị trí vô cùng quan trọng trong nhà trường, đặc
biệt trong trường Tiểu học, nó chiếm khá nhiều thời gian. Nhờ có môn Tiếng
Việt mà học sinh khám phá được nhiều điều của tự nhiên, của xã hội. Thông qua
việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường rèn luyện cho các em năng lực tư duy,
phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng, tình cảm lành mạnh,
trong sáng. Cuối bậc tiểu học, yêu cầu tối thiểu của học sinh cần phải đạt được
là đọc thông, viết thạo mặt chữ, sử dụng tốt ngôn ngữ nói và viết trong học tập
và giao tiếp.
Cùng với các môn học khác ở tiểu học, môn Tiếng Việt có một vị trí hết
sức quan trọng. Môn Tiếng Việt hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng
sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản
về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn
hoá, văn học của Việt Nam. Nhằm phát triển năng lực cốt lõi, năng lực đặc thù
(năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học). Đồng thời phát triển các phẩm chất: yêu
nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
Năm học 2024 – 2025 cả nước thực hiện chương trình sách giáo khoa
2018 đối với lớp 5. Trường Tiểu học Bạch Đằng lựa chọn bộ sách Cánh Diều để
giảng dạy. Chương trình Tiếng Việt 5 là một bộ phận của chương trình Tiếng
Việt tiểu học là kế thừa và phát triển những thành tựu của chương trình Tiếng
Việt 5 năm 2006. Thực hiện những đổi mới về cấu trúc nội dung, chú trọng phát
triển toàn diện, chủ động, sáng tạo cho học sinh thích ứng với xã hội hiện đại và
công nghiệp hóa.
Vậy chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 5 bộ sách Cánh Diều có
những điểm đổi mới gì về nội dung chương trình, cấu trúc của sách giáo khoa,
cấu trúc của từng bài; phương pháp, hình thức tổ chức dạy học như thế nào để
đáp ứng được yêu cầu đổi mới và đáp ứng được yêu cầu dạy học theo hướng
phát triển năng lực của học sinh….? Đó cũng chính là những vấn đề, những câu
hỏi được đặt ra đối với mỗi giáo viên.
1
Xuất phát từ thực tế trên, tập thể khối 5chúng tôi lựa chọn tổ chức chuyên
đề: “Phương pháp và quy trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 5 sách Cánh Diều”.
PHẦN THỨ NHẤT:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN CỦA SGK TIẾNG VIỆT 5 bộ SGK Cánh Diều
1. Tiếp cận mục tiêu
- Tiếp cận mục tiêu là lấy mục tiêu của CTGDPT làm căn cứ để lựa chọn, tổ chức
nội dung học tập và hoạt động học tập của học sinh.
1.1. Thiết kế hệ thống bài học trong sách theo trục Chủ đề, chủ điểm để phục vụ mục
tiêu bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sống và các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm
chỉ, trung thực, trách nhiệm.
1.2. Thiết kế các bài học trong sách theo trục Hoạt động rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ
(đọc, viết, nói và nghe) để phục vụ mục tiêu phát triển các năng lực đặc thù (năng lực
ngôn ngữ và văn học), đồng thời phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực một
cách vững chắc.
2. Tiếp cận đối tượng
- Tiếp cận đối tượng là lựa chọn, tổ chức nội dung học tập và các hoạt động học tập
vừa phù hợp với trình độ nhận thức và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh vừa phát
triển nhận thức và tình cảm, cảm xúc của học sinh.
2.1. Thiết kế các nội dung giáo dục theo nguyên tắc vừa sức và phát triển
- Hệ thống chủ đề, chủ điểm được xây dựng phù hợp với trình độ và yêu cầu phát
triển của học sinh mỗi lớp.
- Nội dung các bài học cũng được xây dựng phù hợp với trình độ và yêu cầu phát
triển của học sinh mỗi lớp.
2.2. Thiết kế hoạt động học tập phù hợp với các đối tượng học tập khác nhau
- Các hoạt động học tập được thiết kế phù hợp với từng khối lớp: SGK Tiếng Việt 5,
củng cố các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe đã hình thành từ các lớp dưới, với yêu cầu
cao hơn (ví dụ, HS lớp5 cần có kĩ năng đọc diễn cảm và trả lời các câu hỏi đọc hiểu
có yêu cầu suy luận – chủ yếu dưới hình thức tự luận), đồng thời rèn luyện kĩ năng
viết đoạn văn, bài văn, cụ thể là: viết đoạn văn kể chuyện có tưởng tượng, viết đoạn
văn biểu cảm, viết đoạn văn nghị luận, viết các bài văn kể chuyện được chứng kiến
hoặc tham gia, miêu tả cây cối, con vật và viết một số văn bản hành chính, văn bản
thông tin. Các kiến thức về tiếng Việt và văn học được dạy thành bài riêng nhưng nội
dung chủ yếu là rèn luyện kĩ năng nhận biết và vận dụng vào đọc, viết, nói và nghe,
không sa vào cách dạy hàn lâm (không chú trọng ghi nhớ định nghĩa, phân loại).
2
- Các hoạt động học tập được thiết kế theo hướng mở, phù hợp với từng nhóm HS để
thực hiện giáo dục phân hoá:
+ SGK Tiếng Việt 5 có nhiều bài tập lựa chọn trong các hoạt động đọc, viết, nói và
nghe để GV và HS chọn theo đặc điểm, điều kiện của mỗi lớp và khả năng, sở thích
của mỗi HS.
+ SGK Tiếng Việt 5 có “phần mềm” khoảng 50 tiết (gồm các tiết Trao đổi về câu
chuyện, bài thơ, bài báo đã đọc ở nhà, Góc sáng tạo, Ôn tập) để GV linh hoạt sử
dụng cho phù hợp với đối tượng HS trong lớp. Ví dụ, GV không nhất thiết phải dạy
toàn bộ nội dung các “phần mềm” này hoặc không yêu cầu những HS còn yếu phải
học toàn bộ các nội dung đó mà có thể lấy bớt thời gian từ “phần mềm” để HS rèn
luyện những kĩ năng còn yếu.
II. CẤU TRÚC SÁCH VÀ BÀI HỌC
1. Tổng thời lượng:
- Tiếng Việt 5 được học trong 35 tuần, mỗi tuần 7 tiết, tổng thời lượng học là 245
tiết.
2. Cấu trúc sách:
- Cấu trúc của sách Tiếng Việt 5 Cũng như toàn bộ SGK Tiếng Việt Cánh Diều,
hệ thống các bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được thiết kế theo hệ thống chủ
đề, chủ điểm.
- Các chủ đề, chủ điểm và bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được bố trí cụ thể
như sau:
Chủ đề
MĂNG NON
Bài học – Chủ điểm
Bài học – Chủ điểm
Bài 1: Trẻ em như búp trên cành Bài 2: Bạn nam, bạn nữ
Bài 3: Có học mới hay
Bài 4: Có chí thì nên
Bài 5: Ôn tập giữa học kì I
CỘNG ĐỒNG
Bài 6: Nghề nào cũng quý
Bài 7: Chung sức chung lòng
Bài 8: Có lí có tình
Bài 9: Vì cuộc sống yên bình
Bài 10: Ôn tập cuối học kì I
ĐẤT NƯỚC
Bài 11: Cuộc sống muôn màu
Bài 12: Người công dân
Bài 13: Chủ nhân tương lai
Bài 14: Gương kiến quốc
Bài 15: Ôn tập giữa học kì II
NNGÔI NHÀ
CHUNG
Bài 16: Cánh chim hoà bình
Bài 18: Sánh vai bè bạn
3
Bài 17: Vươn tới trời cao
Bài 19: Ôn tập cuối năm học
3. Cấu trúc và thời lượng thực hiện bài học
SGK Tiếng Việt 5 có 15 bài học chính và 4 bài ôn tập (giữa học kì I, cuối
học kì I, giữa học kì II, cuối năm học). Mỗi bài học chính ứng với 1 chủ điểm,
được học trong 2 tuần (14 tiết). Bài học chính được thiết kế theo các hoạt động
rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt
với thời lượng cụ thể như sau:
TUẦN LẺ CỦA BÀI HỌC
TUẦN CHẴN CỦA BÀI HỌC
Bài đọc 1
2 tiết
Bài đọc 3
2 tiết
Bài viết 1
1 tiết
Bài viết 3
1 tiết
Nói và nghe (KC)
1 tiết
Nói và nghe (Trao đổi)
1 tiết
Bài đọc 2
1 tiết
Bài đọc 4
1 tiết
Luyện từ và câu
1 tiết
Luyện từ và câu
1 tiết
Bài viết 2
1 tiết
Góc sáng tạo
1 tiết
1. Những điểm đổi mới
1.1. Sách giáo khoa mới tổ chức lại các chủ điểm trên cơ sở 4 chủ đề để bảo đảm
tính hệ thống, tính phát triển của bộ sách Tiếng Việt tiểu học và đáp ứng được
đầy đủ yêu cầu giáo dục toàn diện phẩm chất, năng lực (năng lực đặc thù, năng
lực chung) cho học sinh.
1.2. Sách giáo khoa mới thực hiện dạy học phân hoá: Sách có nhiều bài tập lựa
chọn. Cấu trúc sách có phần cứng và phần mềm (khoảng 50 tiết) để phù hợp với
các đối tượng khác nhau và thực tế ở các địa bàn khác nhau. (Phần mềm gồm:
các tiết Em đọc sách báo, Góc sáng tạo, Ôn tập) để GV linh hoạt sử dụng cho
phù hợp với đối tượng HS trong lớp. VD: GV không nhất thiết phải dạy toàn bộ
nội dung các “phần mềm” hoặc không yêu cầu những HS còn yếu phải học toàn bộ
các nội dung đó mà có thể lấy bớt thời gian từ “phần mềm” để HS rèn luyện những
kĩ năng còn yếu.)
1.3. Cấu trúc bài học trong sách giáo khoa mới phù hợp với quy trình hoạt động:
Chia sẻ (Khởi động) – Khám phá – Luyện tập – Vận dụng – Tự đánh giá.
4
1.4. Các bài đọc trong sách giáo khoa mới được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.
Ví dụ, ở chủ điểm Có lí có tình (giải quyết mâu thuẫn trong cộng đồng), các bài
đọc được bố trí theo trình tự từ xét xử (Mồ côi xử kiện) đến hoà giải (hoà giải ở
toà án – Người chăn dê và hàng xóm; hoà giải trong lớp học, với vai trò của thầy
cô – Chuyện nhỏ trong lớp học) và tự hoà giải (hoà giải giữa các lớp với vai trò
của liên đội trưởng – Tấm bìa các tông; tự hoà giải giữa hai học sinh có mâu
thuẫn – Ai có lỗi?).
1.5. Trong sách giáo khoa mới, quy trình dạy viết trước hết tập trung vào một đề
mà học sinh đã chọn hoặc một ngữ liệu đã quen để học sinh hiểu thật kĩ cách
viết; đến bước luyện tập mới mở rộng sang đề khác hoặc ngữ liệu khác.
1.6. Sách giáo khoa mới thiết kế lại toàn bộ nội dung rèn luyện các kĩ năng viết,
nói và nghe phù hợp với yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
1.7. Hoạt động Góc sáng tạo trong sách giáo khoa mới vừa giúp học sinh tổng
kết, vận dụng những điều đã học sau mỗi bài học (chủ điểm) vừa khuyến khích
sự sáng tạo ở mỗi học sinh.
1.8. Cuối mỗi bài học, sách giáo khoa mới đều có yêu cầu Tự đánh giá để học
sinh đánh giá kết quả học tập của mình, từ đó điều chỉnh cách học để đạt kết quả
học tập cao hơn, đáp ứng yêu cầu của Chương trình.
Sách TV5 năm 2006
Số lượng tiết dạy/ 8 tiết: Trong đó
tuần
- 2 tiết tập đọc
Sách TV5 - Cánh Diều
7 tiết:Tuần lẻ gồm 3 tiết
tập đọc, 2 tiết tập làm
văn, 1 luyện từ và câu, 1
tiết nói nghe.( Kể
chuyện )
+ Tuần chẵn có 3 tiết
TĐ, 1 tiết nói và nghe
(trao đổi), 1 tiết LTVC,
1 tiết TLV, 1 tiết Góc
sáng tạo.
- 1 tiết kể chuyện
- 2 tiết tập làm văn
- 1 tiết chính tả
- 2 LTVC
Cách chia bài/ tiết Theo phân môn: Tập đọc, Chia theo bài học: Mỗi
dạy trong tuần
Chính tả, Kể chuyện, LTVC, bài học học trong 2 tuần,
Tập làm văn
bài ôn tập học trong 1
tuần
5
- Bài đọc 1, bài đọc 3
(học 2 tiết)
- Bài đọc 2, bài đọc 4
(học 1 tiết)
- Bài viết 1, bài viết 2
- Nói và nghe (Kể
chuyện, Trao đổi).
- Luyện từ và câu
- Góc sáng tạo (2 tuần:
Giảm 1 tiết TLV, Không
có tiết Chính tả, giảm 1
tiết Kể chuyện, Thêm: 1
tiết trao đổi, 1 tiết Góc
sáng tạo.)Mỗi tuần bớt 1
tiết LTVC.
LTVC:
Chương trình TV 2006
Các lớp từ và từ loại: Từ đồng nghĩa,
Từ trái nghĩa, Từ đồng âm, Từ nhiều
nghĩa, Đại từ, Quan hệ từ
Chương trình GDPT 2018
Từ đồng nghĩa, Từ đa nghĩa, Đại từ,
Kết từ
Biện pháp tu từ: Không học thêm biện Học mới biện pháp tu từ: Điệp từ,
pháp tu từ mới chỉ làm bài tập có sử
điệp ngữ
dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân
hóa.
Ôn tập về Dấu gạch ngang, dấu
ngoặc kép, dấu chấm, dấu phẩy, dấu
hai chấm, dấu chấm phẩy
Dấu gạch ngang (dùng để đánh dấu
bộ phận chú thích hoặc giải thích)
Luyện tập tra từ điển
Câu ghép
Câu đơn và câu ghép
Viết hoa để thể hiện sự tôn trọng đặc
biệt.
6
Quy tắc viết tên riêng của cơ quan, tổ
chức.
Quy tắc viết tên riêng của cơ quan, tổ
chức. (Chuyển xuống lớp 4)
- Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ Nối các vế câu ghép bằng kết từ ; cặp
; cặp quan hệ từ hoặc cặp từ hô ứng.
kết từ hoặc những cặp từ khác có tác
dụng nối.
- Nối trực tiếp (không dùng từ nối)
- Nối trực tiếp (không dùng từ nối)
(Học trong 7 tiết)
(Học trong 2 tết)
Ôn tập về từ đơn, từ phức,Từ ghép, từ Giảm tải (Lên lớp 6 các em mới học)
láy
Tập làm văn
Chương trình TV 2006
Chương trình GDPT 2018
Tả cảnh (HKI), tả người ( HKI)
Tả người (HKI), tả phong cảnh
(HKII)
Luyện tập viết đơn, Làm Biên bản
Giảm tải
Lập chương trình hoạt động
Viết chương trình hoạt động
Ôn tập về văn kể chuyện, tả cây cối,
đồ vật, con vật
Kể chuyện sáng tạo
Thuyết trình tranh luận
Viết đoạn văn nêu ý kiến về một hiện
tượng xã hội.
Viết đoạn văn giới thiệu một nhân vật
văn học
Viết đoạn văn thể hện tình cảm, cảm
xúc
Luyện tập viết báo cáo
2. Những điểm mới so với sách giáo khoa Tiếng Việt 4 Cánh Diều
2.1. Nội dung kiến thức, kĩ năng phát triển hơn so với lớp 4 theo quy định của
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
7
2.2. Hệ thống bài đọc (gồm các tác phẩm văn học và văn bản thông tin), hệ
thống hoạt động viết, nói và nghe vừa phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực
văn học cho học sinh vừa bồi dưỡng cho học sinh kiến thức, kĩ năng sống và các
phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm với nội dung
được mở rộng và nâng cao hơn lớp 4. Có thể hình dung điều này qua tên các chủ
đề, chủ điểm của sách:
Chủ đề
Chủ điểm – Bài học
Chủ điểm – Bài học
MĂNG NON Bài 1. Trẻ em như búp trên Bài 2. Bạn nam, bạn nữ
cành
Bài 3. Có học mới hay
Bài 4. Có chí thì nên
Bài 5. Ôn tập giữa học kì I
CỘNG
ĐỒNG
Bài 6. Nghề nào cũng quý
Bài 7. Chung sức chung lòng
Bài 8. Có lí có tình
Bài 9. Vì cuộc sống yên bình
Bài 10. Ôn tập cuối học kì I
ĐẤT NƯỚC
Bài 11. Cuộc sống muôn màu
Bài 12. Người công dân
Bài 13. Chủ nhân tương lai
Bài 14. Gương kiến quốc
Bài 15. Ôn tập giữa học kì II
NGÔI NHÀ
CHUNG
Bài 16. Cánh chim hoà bình
Bài 17. Vươn tới trời cao
Bài 18. Sánh vai bè bạn
Bài 19. Ôn tập cuối năm học
2.3. Các câu hỏi, bài tập có yêu cầu cao hơn:
– Câu hỏi, bài tập có yêu cầu giải thích, suy luận, khái quát, vận dụng cao hơn.
– Yêu cầu viết đoạn văn, bài văn cao hơn, bắt đầu có yếu tố nghị luận.
– Bài ôn tập cuối năm giúp học sinh vừa ôn tập kiến thức, kĩ năng đã học ở lớp 5
vừa ôn tập kiến thức, kĩ năng đã học ở toàn cấp tiểu học.
III. ĐÁNH GIÁ
1. Mục tiêu: Giúp HS tự đánh giá và GV đánh giá HS về kết quả học tập; bồi
dưỡng nhận thức,tình cảm, cảm xúc lành mạnh và các PC tốt đẹp cho HS.
2. Các loại bài đánh giá; thời lượng thực hiện:
- Tự đánh giá sau mỗi bài học (HS thực hiện ở nhà theo hướng dẫn trong SGK)
8
- Tự đánh giá giữa học kì, cuối học kì, cuối năm (HS thực hiện các bài luyện tập
trên lớp theo hướng dẫn trong SGK).
- Đánh giá của GV (đánh giá thường xuyên, định kì)
3. Cấu trúc các loại bài đánh giá:
a. Tự đánh giá sau mỗi bài học
- Bài đọc
- Câu hỏi đọc hiểu và bài tập từ ngữ, ngữ pháp
- Yêu cầu tự đánh giá, xếp loại
b. Tự đánh giá giữa học kì, cuối học kì, cuối năm
- Bài đọc và câu hỏi đọc hiểu
- Các bài tập viết, nói và nghe, từ ngữ, ngữ pháp.
c. Đánh giá của GV
- Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng
- Đánh giá kĩ năng đọc hiểu
- Đánh giá kĩ năng viết
4. Cách đánh giá:
* Tự đánh giá:
– Các lớp dưới: Tự đánh giá bằng bảng kiểm.
– Lớp 4, lớp 5: Tự đánh giá bằng bài đọc, bài tập:
+ Văn bản đọc
+ Các CH đọc hiểu
+ BT luyện từ và câu
+ BT viết (ngắn)
– GV hướng dẫn (cách làm BT, cách cho điểm, xếp loại, tự nhận xét) để HS tự
làm ở nhà.
– HS tự làm ở nhà.
– GV thường xuyên kiểm tra hoạt động tự đánh giá của HS qua Vở bài tập Tiếng
Việt 4 hoặc phiếu học tập.
* Đánh giá định kì:
a. Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, HTL
– Thực hiện từ tiết 1 đến tiết 5, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
– Mỗi tiết học đánh giá khoảng 20% HS trong lớp.
b. Đánh giá kĩ năng đọc hiểu, kiến thức luyện từ và câu
– Thực hiện ở tiết 6, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
9
– Ra đề theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
c. Đánh giá kĩ năng viết
– Thực hiện ở tiết 7, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
– Ra đề theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
* Lưu ý: Giáo viên cần theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc tự đánh giá của học
sinh để nắm được học sinh đã biết được những gì, đã làm được những gì… Qua
đó đánh giá được học sinh và để có những điều chỉnh, biện pháp giáo dục phù
hợp với từng đối tượng học sinh.
- GV cần trao đổi với phụ huynh học sinh để phụ huynh học sinh theo dõi giúp
đỡ học sinh biết tự đánh giá và đánh giá một cách trung thực, cũng qua đó phụ
huynh biết được những điều đã đạt được và chưa đạt của con em mình, từ đó có
biện pháp phối hợp kịp thời với giáo viên để củng cố kiến thức, kĩ năng, năng
lực cho học sinh.
Dù đánh giá theo hình thức nào cũng đều phải bảo đảm nguyên tắc: Đánh
giá sự tiến bộ của HS, coi trọng sự động viên, khuyến khích cố gắng trong học
tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy nhiều nhất năng lực sẵn có hoặc đã
được hình thành; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan; không so sánh HS
này với HS khác, không tạo áp lực cho HS, GV và cha mẹ HS.
IV. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
1. Bản chất và ý nghĩa của phương pháp dạy học mới
Phương pháp dạy học thích hợp nhất để thực hiện chương trình 2018 là tổ
chức hoạt động, thể hiện triết lí “Lấy HS làm nhân vật trung tâm”.
Bản chất của phương pháp Tổ chức hoạt động là tích cực hóa HĐ của
người hoc, trong đó GV đóng vai trò là người tổ chức HĐ của HS, mỗi HS đều
được HĐ. mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và phát triển.
Những dấu hiệu đặc trưng của PP tổ chức HĐ là:
- GV là người tổ chức, hướng dẫn HĐ của HS, tạo môi trường học tập thân thiện
để khuyến khích HS tích cực tham gia vào các HĐ, không làm thay hoặc áp đặt
quan điểm của mình cho HS.
- HS được đặt vào các tình huống có vấn đề, trực tiếp quan sát, thảo luận, làm
thí nghiệm và được khuyến khích đưa ra cách giải quyết vấn đề theo quan điểm
của riêng mình.
10
- Giữa GV với HS và giữa các HS với nhau thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều
chiều. Khi làm việc không chỉ có câu hỏi GV đặt ra cho HS mà có cả câu hỏi HS
đặt ra cho GV hoặc đặt ra cho HS khác.
- HS có hứng thúc học tập, có khả năng chủ động đề xuất nội dung học tập và
khả năng tự đánh giá.
- Qua HĐ học tập tích cực, HS được hình thành kiến thức, kĩ năng một cách
vững chắc và học được phương pháp tiếp cận vấn đề, PP tự học. Ngày càng có
nhiều HS thể hiện được bản sắc riêng trong nhận thức, kĩ năng và nhân cách.
Sự ra đời của phương pháp Tổ chức HĐ có lí do thực tế: Kiến thức, kĩ năng
(năng lực) chỉ được hình thành, phát triển thông qua HĐ có ý nghĩa của con
người; những tư tưởng, tình cảm và nhân cách tốt đẹp cũng chỉ có thể được hình
thành qua rèn luyện trong thực tế.
PP tổ chức HĐ còn tạo ra NL tự học và hợp tác ở HS, phù hợp với điều kiện tiếp
cận thông tin và những yêu cầu đối với người lao động trong xã hội hiện đại.
Dạy học theo PP Tổ chức HĐ là một giải pháp thực hiện yêu cầu của Nghị
quyết 29 - NQ/ TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiê đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập quốc tế “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học , cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghiệp
thông tin và truyền thông trong dạy học”.
2. Hoạt động của giáo viên trong giờ học theo phương pháp dạy học mới
a) Giao việc cho học sinh
- Nêu nhiệm vụ thầy và trò cần thực hiện trong giờ học.
- Cho HS thực hiện một phần nhiệm vụ (làm mẫu, làm thử) nếu nhiệm vụ
đặt ra trong CH, BT ấy là khó hoặc mới đối với HS. Sau khi cả lớp đã hoàn
thành nhiệm vụ làm thử, GV tổ chức chữa bài để giúp HS nắm được cách làm và
nhắc nhở những điểm HS cần chú ý khi làm bài.
11
- Nêu yêu cầu về hình thức hoạt động của HS (làm việc độc lập, làm việc
nhóm hoặc làm việc theo lớp) để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đã giao.
b) Tổ chức cho HS làm việc
HĐ của HS trong giờ học TV theo PP Tổ chức HĐ là HĐ giao tiếp (đọc,
viết, nghe, nói), phân tích, tổng hợp, cảm thụ, thực hành,... Trong quá trình HS
làm việc, GV cần kiểm tra công việc của các em. Nội dung kiểm tra là:
- Xem HS có làm việc không; nếu HS không làm việc thì cần tìm hiểu lí do,
động viên các em làm việc để đảm bảo yêu cầu tích cực hóa HĐ học tập của
người học.
- Xem HS có hiểu việc phải làm không, nếu HS không hiểu việc phải làm thì cần
giải thích, hướng dẫn lại cho HS làm đê HĐ của các em đạt được mục đích đề ra.
- Trả lời thắc mắc của HS.
c) Tổ chức cho học sinh báo cáo và đánh giá kết quả làm việc
HS có thể báo cáo trực tiếp với GV, báo cáo trong nhóm, báo cáo trước
lớp. Các hình thức báo cáo có thể là: báo cáo bằng lời, bằng phiếu học tập, bảng
con hoặc bằng cách trình bày trên bảng lớp, trên máy chiếu, ti vi (cá nhân trình
bày hay thi đua giữa các nhóm,...) Theo PPDH mới, người đánh giá HS không
nhất thiết là GV. Có thể hướng dẫn để HS tự đánh giá hoặc đánh giá nhau trong
nhóm hoặc trước lớp.
Thực hiện PP tổ chức hoạt động không có nghĩa là loại bỏ các PPDH
truyền thống, đoạn tuyệt với những kinh nghiệm và kĩ thuật dạy hoc đã tích lũy
được. Sự vận dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức một số PPDH truyền thống có
thể bù đắp cho những hạn chế dễ mắc phải nếu chưa hiểu thấu đáo về PP tổ chức
HD khi hướng dẫn HS làm việc, nếu HS chưa hiểu cách làm, GV phải giảng giải
cách thực hiện nhiệm vụ cho các em; lúc giới thiệu bài, lúc liên hệ, tổng kết hay
củng cố, dặn dò, GV cũng không tránh được việc thuyết trình. Điều quan trọng
nhất là GV không lấy việc giảng bài làm chính, không nói thay, làm thay học
trò, đặt học trò vào vai thụ động ngồi nghe GV thuyết trình.
3. Hoạt động của học sinh trong tiết học theo phương pháp dạy học mới
Bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được thiết kế theo mô hình hoạt động. Mỗi
bài học gồm 5 loại hoạt động: Khởi động, Khám phá, Luyện tập, Vận dụng và Tự
đánh giá (thực hiện ở nhà). Tuy nhiên, một bài học gồm nhiều nội dung: Đọc, Viết,
Nói và nghe, Góc sáng tạo. Không nhất thiết là việc thực hiện mỗi nội dung này đều
phải bao gồm đủ 4 loại hoạt động. Mặt khác, trong một bài học cũng như trong mỗi
12
nội dung học tập, các loại hoạt động có thể xen kẽ nhau, chứ không nhất thiết chỉ
theo một thứ tự nhất định. Có thể hình dung như sau:
(1) Khởi động (Chia sẻ): Nội dung của loại hoạt động này là tổ chức cho HS
thực hiện một số hoạt động hoặc chia sẻ những điều đã trải nghiệm liên quan đến bài
học để chuẩn bị cho bài học. SGK chỉ hướng dẫn hoạt động Chia sẻ về chủ điểm ở
tiết học mở đầu mỗi bài học. GV nên coi đây là gợi ý tham khảo và có thể tổ chức
khởi động theo cách khác, miễn là hoạt động đó giúp HS chia sẻ những điều đã trải
nghiệm liên quan đến bài học để chuẩn bị cho bài học. Đồng thời, đối với mỗi nội
dung Đọc, Viết, Nói và nghe trong bài học, GV cũng có thể bắt đầu bằng cách tổ
chức một hoạt động khởi động phù hợp.
(2) Khám phá: Loại hoạt động này đặt HS trước yêu cầu xử lí tình huống (tình
huống mới hoặc tình huống đã gặp với nhiệm vụ mới) để giúp các em có những hiểu
biết và kinh nghiệm mới. Một bài học không phải chỉ có một hoạt động khám phá
mà mỗi nội dung Đọc, Viết, Nói và nghe trong bài học đều có thể có những bài tập
giúp HS khám phá kiến thức mới. Ví dụ: tiếp xúc với mỗi bài đọc, HS đều được
hướng dẫn đọc hiểu bằng các câu hỏi; ở nhiều tiết viết, HS được hướng dẫn để biết
cách viết đoạn văn, bài văn; đó đều là các hoạt đ
LÝ THUYẾT CHUYÊN ĐỀ
TỔ 4 + 5
PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH DẠY HỌC
MÔN TIẾNG VIỆT - LỚP 5 (SÁCH CÁNH DIỀU)
Năm học 2024 - 2025
LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:
Tiếng Việt là môn học có vị trí vô cùng quan trọng trong nhà trường, đặc
biệt trong trường Tiểu học, nó chiếm khá nhiều thời gian. Nhờ có môn Tiếng
Việt mà học sinh khám phá được nhiều điều của tự nhiên, của xã hội. Thông qua
việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường rèn luyện cho các em năng lực tư duy,
phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng, tình cảm lành mạnh,
trong sáng. Cuối bậc tiểu học, yêu cầu tối thiểu của học sinh cần phải đạt được
là đọc thông, viết thạo mặt chữ, sử dụng tốt ngôn ngữ nói và viết trong học tập
và giao tiếp.
Cùng với các môn học khác ở tiểu học, môn Tiếng Việt có một vị trí hết
sức quan trọng. Môn Tiếng Việt hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng
sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản
về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn
hoá, văn học của Việt Nam. Nhằm phát triển năng lực cốt lõi, năng lực đặc thù
(năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học). Đồng thời phát triển các phẩm chất: yêu
nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
Năm học 2024 – 2025 cả nước thực hiện chương trình sách giáo khoa
2018 đối với lớp 5. Trường Tiểu học Bạch Đằng lựa chọn bộ sách Cánh Diều để
giảng dạy. Chương trình Tiếng Việt 5 là một bộ phận của chương trình Tiếng
Việt tiểu học là kế thừa và phát triển những thành tựu của chương trình Tiếng
Việt 5 năm 2006. Thực hiện những đổi mới về cấu trúc nội dung, chú trọng phát
triển toàn diện, chủ động, sáng tạo cho học sinh thích ứng với xã hội hiện đại và
công nghiệp hóa.
Vậy chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 5 bộ sách Cánh Diều có
những điểm đổi mới gì về nội dung chương trình, cấu trúc của sách giáo khoa,
cấu trúc của từng bài; phương pháp, hình thức tổ chức dạy học như thế nào để
đáp ứng được yêu cầu đổi mới và đáp ứng được yêu cầu dạy học theo hướng
phát triển năng lực của học sinh….? Đó cũng chính là những vấn đề, những câu
hỏi được đặt ra đối với mỗi giáo viên.
1
Xuất phát từ thực tế trên, tập thể khối 5chúng tôi lựa chọn tổ chức chuyên
đề: “Phương pháp và quy trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 5 sách Cánh Diều”.
PHẦN THỨ NHẤT:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN CỦA SGK TIẾNG VIỆT 5 bộ SGK Cánh Diều
1. Tiếp cận mục tiêu
- Tiếp cận mục tiêu là lấy mục tiêu của CTGDPT làm căn cứ để lựa chọn, tổ chức
nội dung học tập và hoạt động học tập của học sinh.
1.1. Thiết kế hệ thống bài học trong sách theo trục Chủ đề, chủ điểm để phục vụ mục
tiêu bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sống và các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm
chỉ, trung thực, trách nhiệm.
1.2. Thiết kế các bài học trong sách theo trục Hoạt động rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ
(đọc, viết, nói và nghe) để phục vụ mục tiêu phát triển các năng lực đặc thù (năng lực
ngôn ngữ và văn học), đồng thời phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực một
cách vững chắc.
2. Tiếp cận đối tượng
- Tiếp cận đối tượng là lựa chọn, tổ chức nội dung học tập và các hoạt động học tập
vừa phù hợp với trình độ nhận thức và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh vừa phát
triển nhận thức và tình cảm, cảm xúc của học sinh.
2.1. Thiết kế các nội dung giáo dục theo nguyên tắc vừa sức và phát triển
- Hệ thống chủ đề, chủ điểm được xây dựng phù hợp với trình độ và yêu cầu phát
triển của học sinh mỗi lớp.
- Nội dung các bài học cũng được xây dựng phù hợp với trình độ và yêu cầu phát
triển của học sinh mỗi lớp.
2.2. Thiết kế hoạt động học tập phù hợp với các đối tượng học tập khác nhau
- Các hoạt động học tập được thiết kế phù hợp với từng khối lớp: SGK Tiếng Việt 5,
củng cố các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe đã hình thành từ các lớp dưới, với yêu cầu
cao hơn (ví dụ, HS lớp5 cần có kĩ năng đọc diễn cảm và trả lời các câu hỏi đọc hiểu
có yêu cầu suy luận – chủ yếu dưới hình thức tự luận), đồng thời rèn luyện kĩ năng
viết đoạn văn, bài văn, cụ thể là: viết đoạn văn kể chuyện có tưởng tượng, viết đoạn
văn biểu cảm, viết đoạn văn nghị luận, viết các bài văn kể chuyện được chứng kiến
hoặc tham gia, miêu tả cây cối, con vật và viết một số văn bản hành chính, văn bản
thông tin. Các kiến thức về tiếng Việt và văn học được dạy thành bài riêng nhưng nội
dung chủ yếu là rèn luyện kĩ năng nhận biết và vận dụng vào đọc, viết, nói và nghe,
không sa vào cách dạy hàn lâm (không chú trọng ghi nhớ định nghĩa, phân loại).
2
- Các hoạt động học tập được thiết kế theo hướng mở, phù hợp với từng nhóm HS để
thực hiện giáo dục phân hoá:
+ SGK Tiếng Việt 5 có nhiều bài tập lựa chọn trong các hoạt động đọc, viết, nói và
nghe để GV và HS chọn theo đặc điểm, điều kiện của mỗi lớp và khả năng, sở thích
của mỗi HS.
+ SGK Tiếng Việt 5 có “phần mềm” khoảng 50 tiết (gồm các tiết Trao đổi về câu
chuyện, bài thơ, bài báo đã đọc ở nhà, Góc sáng tạo, Ôn tập) để GV linh hoạt sử
dụng cho phù hợp với đối tượng HS trong lớp. Ví dụ, GV không nhất thiết phải dạy
toàn bộ nội dung các “phần mềm” này hoặc không yêu cầu những HS còn yếu phải
học toàn bộ các nội dung đó mà có thể lấy bớt thời gian từ “phần mềm” để HS rèn
luyện những kĩ năng còn yếu.
II. CẤU TRÚC SÁCH VÀ BÀI HỌC
1. Tổng thời lượng:
- Tiếng Việt 5 được học trong 35 tuần, mỗi tuần 7 tiết, tổng thời lượng học là 245
tiết.
2. Cấu trúc sách:
- Cấu trúc của sách Tiếng Việt 5 Cũng như toàn bộ SGK Tiếng Việt Cánh Diều,
hệ thống các bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được thiết kế theo hệ thống chủ
đề, chủ điểm.
- Các chủ đề, chủ điểm và bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được bố trí cụ thể
như sau:
Chủ đề
MĂNG NON
Bài học – Chủ điểm
Bài học – Chủ điểm
Bài 1: Trẻ em như búp trên cành Bài 2: Bạn nam, bạn nữ
Bài 3: Có học mới hay
Bài 4: Có chí thì nên
Bài 5: Ôn tập giữa học kì I
CỘNG ĐỒNG
Bài 6: Nghề nào cũng quý
Bài 7: Chung sức chung lòng
Bài 8: Có lí có tình
Bài 9: Vì cuộc sống yên bình
Bài 10: Ôn tập cuối học kì I
ĐẤT NƯỚC
Bài 11: Cuộc sống muôn màu
Bài 12: Người công dân
Bài 13: Chủ nhân tương lai
Bài 14: Gương kiến quốc
Bài 15: Ôn tập giữa học kì II
NNGÔI NHÀ
CHUNG
Bài 16: Cánh chim hoà bình
Bài 18: Sánh vai bè bạn
3
Bài 17: Vươn tới trời cao
Bài 19: Ôn tập cuối năm học
3. Cấu trúc và thời lượng thực hiện bài học
SGK Tiếng Việt 5 có 15 bài học chính và 4 bài ôn tập (giữa học kì I, cuối
học kì I, giữa học kì II, cuối năm học). Mỗi bài học chính ứng với 1 chủ điểm,
được học trong 2 tuần (14 tiết). Bài học chính được thiết kế theo các hoạt động
rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt
với thời lượng cụ thể như sau:
TUẦN LẺ CỦA BÀI HỌC
TUẦN CHẴN CỦA BÀI HỌC
Bài đọc 1
2 tiết
Bài đọc 3
2 tiết
Bài viết 1
1 tiết
Bài viết 3
1 tiết
Nói và nghe (KC)
1 tiết
Nói và nghe (Trao đổi)
1 tiết
Bài đọc 2
1 tiết
Bài đọc 4
1 tiết
Luyện từ và câu
1 tiết
Luyện từ và câu
1 tiết
Bài viết 2
1 tiết
Góc sáng tạo
1 tiết
1. Những điểm đổi mới
1.1. Sách giáo khoa mới tổ chức lại các chủ điểm trên cơ sở 4 chủ đề để bảo đảm
tính hệ thống, tính phát triển của bộ sách Tiếng Việt tiểu học và đáp ứng được
đầy đủ yêu cầu giáo dục toàn diện phẩm chất, năng lực (năng lực đặc thù, năng
lực chung) cho học sinh.
1.2. Sách giáo khoa mới thực hiện dạy học phân hoá: Sách có nhiều bài tập lựa
chọn. Cấu trúc sách có phần cứng và phần mềm (khoảng 50 tiết) để phù hợp với
các đối tượng khác nhau và thực tế ở các địa bàn khác nhau. (Phần mềm gồm:
các tiết Em đọc sách báo, Góc sáng tạo, Ôn tập) để GV linh hoạt sử dụng cho
phù hợp với đối tượng HS trong lớp. VD: GV không nhất thiết phải dạy toàn bộ
nội dung các “phần mềm” hoặc không yêu cầu những HS còn yếu phải học toàn bộ
các nội dung đó mà có thể lấy bớt thời gian từ “phần mềm” để HS rèn luyện những
kĩ năng còn yếu.)
1.3. Cấu trúc bài học trong sách giáo khoa mới phù hợp với quy trình hoạt động:
Chia sẻ (Khởi động) – Khám phá – Luyện tập – Vận dụng – Tự đánh giá.
4
1.4. Các bài đọc trong sách giáo khoa mới được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.
Ví dụ, ở chủ điểm Có lí có tình (giải quyết mâu thuẫn trong cộng đồng), các bài
đọc được bố trí theo trình tự từ xét xử (Mồ côi xử kiện) đến hoà giải (hoà giải ở
toà án – Người chăn dê và hàng xóm; hoà giải trong lớp học, với vai trò của thầy
cô – Chuyện nhỏ trong lớp học) và tự hoà giải (hoà giải giữa các lớp với vai trò
của liên đội trưởng – Tấm bìa các tông; tự hoà giải giữa hai học sinh có mâu
thuẫn – Ai có lỗi?).
1.5. Trong sách giáo khoa mới, quy trình dạy viết trước hết tập trung vào một đề
mà học sinh đã chọn hoặc một ngữ liệu đã quen để học sinh hiểu thật kĩ cách
viết; đến bước luyện tập mới mở rộng sang đề khác hoặc ngữ liệu khác.
1.6. Sách giáo khoa mới thiết kế lại toàn bộ nội dung rèn luyện các kĩ năng viết,
nói và nghe phù hợp với yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
1.7. Hoạt động Góc sáng tạo trong sách giáo khoa mới vừa giúp học sinh tổng
kết, vận dụng những điều đã học sau mỗi bài học (chủ điểm) vừa khuyến khích
sự sáng tạo ở mỗi học sinh.
1.8. Cuối mỗi bài học, sách giáo khoa mới đều có yêu cầu Tự đánh giá để học
sinh đánh giá kết quả học tập của mình, từ đó điều chỉnh cách học để đạt kết quả
học tập cao hơn, đáp ứng yêu cầu của Chương trình.
Sách TV5 năm 2006
Số lượng tiết dạy/ 8 tiết: Trong đó
tuần
- 2 tiết tập đọc
Sách TV5 - Cánh Diều
7 tiết:Tuần lẻ gồm 3 tiết
tập đọc, 2 tiết tập làm
văn, 1 luyện từ và câu, 1
tiết nói nghe.( Kể
chuyện )
+ Tuần chẵn có 3 tiết
TĐ, 1 tiết nói và nghe
(trao đổi), 1 tiết LTVC,
1 tiết TLV, 1 tiết Góc
sáng tạo.
- 1 tiết kể chuyện
- 2 tiết tập làm văn
- 1 tiết chính tả
- 2 LTVC
Cách chia bài/ tiết Theo phân môn: Tập đọc, Chia theo bài học: Mỗi
dạy trong tuần
Chính tả, Kể chuyện, LTVC, bài học học trong 2 tuần,
Tập làm văn
bài ôn tập học trong 1
tuần
5
- Bài đọc 1, bài đọc 3
(học 2 tiết)
- Bài đọc 2, bài đọc 4
(học 1 tiết)
- Bài viết 1, bài viết 2
- Nói và nghe (Kể
chuyện, Trao đổi).
- Luyện từ và câu
- Góc sáng tạo (2 tuần:
Giảm 1 tiết TLV, Không
có tiết Chính tả, giảm 1
tiết Kể chuyện, Thêm: 1
tiết trao đổi, 1 tiết Góc
sáng tạo.)Mỗi tuần bớt 1
tiết LTVC.
LTVC:
Chương trình TV 2006
Các lớp từ và từ loại: Từ đồng nghĩa,
Từ trái nghĩa, Từ đồng âm, Từ nhiều
nghĩa, Đại từ, Quan hệ từ
Chương trình GDPT 2018
Từ đồng nghĩa, Từ đa nghĩa, Đại từ,
Kết từ
Biện pháp tu từ: Không học thêm biện Học mới biện pháp tu từ: Điệp từ,
pháp tu từ mới chỉ làm bài tập có sử
điệp ngữ
dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân
hóa.
Ôn tập về Dấu gạch ngang, dấu
ngoặc kép, dấu chấm, dấu phẩy, dấu
hai chấm, dấu chấm phẩy
Dấu gạch ngang (dùng để đánh dấu
bộ phận chú thích hoặc giải thích)
Luyện tập tra từ điển
Câu ghép
Câu đơn và câu ghép
Viết hoa để thể hiện sự tôn trọng đặc
biệt.
6
Quy tắc viết tên riêng của cơ quan, tổ
chức.
Quy tắc viết tên riêng của cơ quan, tổ
chức. (Chuyển xuống lớp 4)
- Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ Nối các vế câu ghép bằng kết từ ; cặp
; cặp quan hệ từ hoặc cặp từ hô ứng.
kết từ hoặc những cặp từ khác có tác
dụng nối.
- Nối trực tiếp (không dùng từ nối)
- Nối trực tiếp (không dùng từ nối)
(Học trong 7 tiết)
(Học trong 2 tết)
Ôn tập về từ đơn, từ phức,Từ ghép, từ Giảm tải (Lên lớp 6 các em mới học)
láy
Tập làm văn
Chương trình TV 2006
Chương trình GDPT 2018
Tả cảnh (HKI), tả người ( HKI)
Tả người (HKI), tả phong cảnh
(HKII)
Luyện tập viết đơn, Làm Biên bản
Giảm tải
Lập chương trình hoạt động
Viết chương trình hoạt động
Ôn tập về văn kể chuyện, tả cây cối,
đồ vật, con vật
Kể chuyện sáng tạo
Thuyết trình tranh luận
Viết đoạn văn nêu ý kiến về một hiện
tượng xã hội.
Viết đoạn văn giới thiệu một nhân vật
văn học
Viết đoạn văn thể hện tình cảm, cảm
xúc
Luyện tập viết báo cáo
2. Những điểm mới so với sách giáo khoa Tiếng Việt 4 Cánh Diều
2.1. Nội dung kiến thức, kĩ năng phát triển hơn so với lớp 4 theo quy định của
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
7
2.2. Hệ thống bài đọc (gồm các tác phẩm văn học và văn bản thông tin), hệ
thống hoạt động viết, nói và nghe vừa phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực
văn học cho học sinh vừa bồi dưỡng cho học sinh kiến thức, kĩ năng sống và các
phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm với nội dung
được mở rộng và nâng cao hơn lớp 4. Có thể hình dung điều này qua tên các chủ
đề, chủ điểm của sách:
Chủ đề
Chủ điểm – Bài học
Chủ điểm – Bài học
MĂNG NON Bài 1. Trẻ em như búp trên Bài 2. Bạn nam, bạn nữ
cành
Bài 3. Có học mới hay
Bài 4. Có chí thì nên
Bài 5. Ôn tập giữa học kì I
CỘNG
ĐỒNG
Bài 6. Nghề nào cũng quý
Bài 7. Chung sức chung lòng
Bài 8. Có lí có tình
Bài 9. Vì cuộc sống yên bình
Bài 10. Ôn tập cuối học kì I
ĐẤT NƯỚC
Bài 11. Cuộc sống muôn màu
Bài 12. Người công dân
Bài 13. Chủ nhân tương lai
Bài 14. Gương kiến quốc
Bài 15. Ôn tập giữa học kì II
NGÔI NHÀ
CHUNG
Bài 16. Cánh chim hoà bình
Bài 17. Vươn tới trời cao
Bài 18. Sánh vai bè bạn
Bài 19. Ôn tập cuối năm học
2.3. Các câu hỏi, bài tập có yêu cầu cao hơn:
– Câu hỏi, bài tập có yêu cầu giải thích, suy luận, khái quát, vận dụng cao hơn.
– Yêu cầu viết đoạn văn, bài văn cao hơn, bắt đầu có yếu tố nghị luận.
– Bài ôn tập cuối năm giúp học sinh vừa ôn tập kiến thức, kĩ năng đã học ở lớp 5
vừa ôn tập kiến thức, kĩ năng đã học ở toàn cấp tiểu học.
III. ĐÁNH GIÁ
1. Mục tiêu: Giúp HS tự đánh giá và GV đánh giá HS về kết quả học tập; bồi
dưỡng nhận thức,tình cảm, cảm xúc lành mạnh và các PC tốt đẹp cho HS.
2. Các loại bài đánh giá; thời lượng thực hiện:
- Tự đánh giá sau mỗi bài học (HS thực hiện ở nhà theo hướng dẫn trong SGK)
8
- Tự đánh giá giữa học kì, cuối học kì, cuối năm (HS thực hiện các bài luyện tập
trên lớp theo hướng dẫn trong SGK).
- Đánh giá của GV (đánh giá thường xuyên, định kì)
3. Cấu trúc các loại bài đánh giá:
a. Tự đánh giá sau mỗi bài học
- Bài đọc
- Câu hỏi đọc hiểu và bài tập từ ngữ, ngữ pháp
- Yêu cầu tự đánh giá, xếp loại
b. Tự đánh giá giữa học kì, cuối học kì, cuối năm
- Bài đọc và câu hỏi đọc hiểu
- Các bài tập viết, nói và nghe, từ ngữ, ngữ pháp.
c. Đánh giá của GV
- Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng
- Đánh giá kĩ năng đọc hiểu
- Đánh giá kĩ năng viết
4. Cách đánh giá:
* Tự đánh giá:
– Các lớp dưới: Tự đánh giá bằng bảng kiểm.
– Lớp 4, lớp 5: Tự đánh giá bằng bài đọc, bài tập:
+ Văn bản đọc
+ Các CH đọc hiểu
+ BT luyện từ và câu
+ BT viết (ngắn)
– GV hướng dẫn (cách làm BT, cách cho điểm, xếp loại, tự nhận xét) để HS tự
làm ở nhà.
– HS tự làm ở nhà.
– GV thường xuyên kiểm tra hoạt động tự đánh giá của HS qua Vở bài tập Tiếng
Việt 4 hoặc phiếu học tập.
* Đánh giá định kì:
a. Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, HTL
– Thực hiện từ tiết 1 đến tiết 5, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
– Mỗi tiết học đánh giá khoảng 20% HS trong lớp.
b. Đánh giá kĩ năng đọc hiểu, kiến thức luyện từ và câu
– Thực hiện ở tiết 6, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
9
– Ra đề theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
c. Đánh giá kĩ năng viết
– Thực hiện ở tiết 7, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
– Ra đề theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
* Lưu ý: Giáo viên cần theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc tự đánh giá của học
sinh để nắm được học sinh đã biết được những gì, đã làm được những gì… Qua
đó đánh giá được học sinh và để có những điều chỉnh, biện pháp giáo dục phù
hợp với từng đối tượng học sinh.
- GV cần trao đổi với phụ huynh học sinh để phụ huynh học sinh theo dõi giúp
đỡ học sinh biết tự đánh giá và đánh giá một cách trung thực, cũng qua đó phụ
huynh biết được những điều đã đạt được và chưa đạt của con em mình, từ đó có
biện pháp phối hợp kịp thời với giáo viên để củng cố kiến thức, kĩ năng, năng
lực cho học sinh.
Dù đánh giá theo hình thức nào cũng đều phải bảo đảm nguyên tắc: Đánh
giá sự tiến bộ của HS, coi trọng sự động viên, khuyến khích cố gắng trong học
tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy nhiều nhất năng lực sẵn có hoặc đã
được hình thành; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan; không so sánh HS
này với HS khác, không tạo áp lực cho HS, GV và cha mẹ HS.
IV. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
1. Bản chất và ý nghĩa của phương pháp dạy học mới
Phương pháp dạy học thích hợp nhất để thực hiện chương trình 2018 là tổ
chức hoạt động, thể hiện triết lí “Lấy HS làm nhân vật trung tâm”.
Bản chất của phương pháp Tổ chức hoạt động là tích cực hóa HĐ của
người hoc, trong đó GV đóng vai trò là người tổ chức HĐ của HS, mỗi HS đều
được HĐ. mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và phát triển.
Những dấu hiệu đặc trưng của PP tổ chức HĐ là:
- GV là người tổ chức, hướng dẫn HĐ của HS, tạo môi trường học tập thân thiện
để khuyến khích HS tích cực tham gia vào các HĐ, không làm thay hoặc áp đặt
quan điểm của mình cho HS.
- HS được đặt vào các tình huống có vấn đề, trực tiếp quan sát, thảo luận, làm
thí nghiệm và được khuyến khích đưa ra cách giải quyết vấn đề theo quan điểm
của riêng mình.
10
- Giữa GV với HS và giữa các HS với nhau thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều
chiều. Khi làm việc không chỉ có câu hỏi GV đặt ra cho HS mà có cả câu hỏi HS
đặt ra cho GV hoặc đặt ra cho HS khác.
- HS có hứng thúc học tập, có khả năng chủ động đề xuất nội dung học tập và
khả năng tự đánh giá.
- Qua HĐ học tập tích cực, HS được hình thành kiến thức, kĩ năng một cách
vững chắc và học được phương pháp tiếp cận vấn đề, PP tự học. Ngày càng có
nhiều HS thể hiện được bản sắc riêng trong nhận thức, kĩ năng và nhân cách.
Sự ra đời của phương pháp Tổ chức HĐ có lí do thực tế: Kiến thức, kĩ năng
(năng lực) chỉ được hình thành, phát triển thông qua HĐ có ý nghĩa của con
người; những tư tưởng, tình cảm và nhân cách tốt đẹp cũng chỉ có thể được hình
thành qua rèn luyện trong thực tế.
PP tổ chức HĐ còn tạo ra NL tự học và hợp tác ở HS, phù hợp với điều kiện tiếp
cận thông tin và những yêu cầu đối với người lao động trong xã hội hiện đại.
Dạy học theo PP Tổ chức HĐ là một giải pháp thực hiện yêu cầu của Nghị
quyết 29 - NQ/ TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiê đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập quốc tế “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học , cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghiệp
thông tin và truyền thông trong dạy học”.
2. Hoạt động của giáo viên trong giờ học theo phương pháp dạy học mới
a) Giao việc cho học sinh
- Nêu nhiệm vụ thầy và trò cần thực hiện trong giờ học.
- Cho HS thực hiện một phần nhiệm vụ (làm mẫu, làm thử) nếu nhiệm vụ
đặt ra trong CH, BT ấy là khó hoặc mới đối với HS. Sau khi cả lớp đã hoàn
thành nhiệm vụ làm thử, GV tổ chức chữa bài để giúp HS nắm được cách làm và
nhắc nhở những điểm HS cần chú ý khi làm bài.
11
- Nêu yêu cầu về hình thức hoạt động của HS (làm việc độc lập, làm việc
nhóm hoặc làm việc theo lớp) để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đã giao.
b) Tổ chức cho HS làm việc
HĐ của HS trong giờ học TV theo PP Tổ chức HĐ là HĐ giao tiếp (đọc,
viết, nghe, nói), phân tích, tổng hợp, cảm thụ, thực hành,... Trong quá trình HS
làm việc, GV cần kiểm tra công việc của các em. Nội dung kiểm tra là:
- Xem HS có làm việc không; nếu HS không làm việc thì cần tìm hiểu lí do,
động viên các em làm việc để đảm bảo yêu cầu tích cực hóa HĐ học tập của
người học.
- Xem HS có hiểu việc phải làm không, nếu HS không hiểu việc phải làm thì cần
giải thích, hướng dẫn lại cho HS làm đê HĐ của các em đạt được mục đích đề ra.
- Trả lời thắc mắc của HS.
c) Tổ chức cho học sinh báo cáo và đánh giá kết quả làm việc
HS có thể báo cáo trực tiếp với GV, báo cáo trong nhóm, báo cáo trước
lớp. Các hình thức báo cáo có thể là: báo cáo bằng lời, bằng phiếu học tập, bảng
con hoặc bằng cách trình bày trên bảng lớp, trên máy chiếu, ti vi (cá nhân trình
bày hay thi đua giữa các nhóm,...) Theo PPDH mới, người đánh giá HS không
nhất thiết là GV. Có thể hướng dẫn để HS tự đánh giá hoặc đánh giá nhau trong
nhóm hoặc trước lớp.
Thực hiện PP tổ chức hoạt động không có nghĩa là loại bỏ các PPDH
truyền thống, đoạn tuyệt với những kinh nghiệm và kĩ thuật dạy hoc đã tích lũy
được. Sự vận dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức một số PPDH truyền thống có
thể bù đắp cho những hạn chế dễ mắc phải nếu chưa hiểu thấu đáo về PP tổ chức
HD khi hướng dẫn HS làm việc, nếu HS chưa hiểu cách làm, GV phải giảng giải
cách thực hiện nhiệm vụ cho các em; lúc giới thiệu bài, lúc liên hệ, tổng kết hay
củng cố, dặn dò, GV cũng không tránh được việc thuyết trình. Điều quan trọng
nhất là GV không lấy việc giảng bài làm chính, không nói thay, làm thay học
trò, đặt học trò vào vai thụ động ngồi nghe GV thuyết trình.
3. Hoạt động của học sinh trong tiết học theo phương pháp dạy học mới
Bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được thiết kế theo mô hình hoạt động. Mỗi
bài học gồm 5 loại hoạt động: Khởi động, Khám phá, Luyện tập, Vận dụng và Tự
đánh giá (thực hiện ở nhà). Tuy nhiên, một bài học gồm nhiều nội dung: Đọc, Viết,
Nói và nghe, Góc sáng tạo. Không nhất thiết là việc thực hiện mỗi nội dung này đều
phải bao gồm đủ 4 loại hoạt động. Mặt khác, trong một bài học cũng như trong mỗi
12
nội dung học tập, các loại hoạt động có thể xen kẽ nhau, chứ không nhất thiết chỉ
theo một thứ tự nhất định. Có thể hình dung như sau:
(1) Khởi động (Chia sẻ): Nội dung của loại hoạt động này là tổ chức cho HS
thực hiện một số hoạt động hoặc chia sẻ những điều đã trải nghiệm liên quan đến bài
học để chuẩn bị cho bài học. SGK chỉ hướng dẫn hoạt động Chia sẻ về chủ điểm ở
tiết học mở đầu mỗi bài học. GV nên coi đây là gợi ý tham khảo và có thể tổ chức
khởi động theo cách khác, miễn là hoạt động đó giúp HS chia sẻ những điều đã trải
nghiệm liên quan đến bài học để chuẩn bị cho bài học. Đồng thời, đối với mỗi nội
dung Đọc, Viết, Nói và nghe trong bài học, GV cũng có thể bắt đầu bằng cách tổ
chức một hoạt động khởi động phù hợp.
(2) Khám phá: Loại hoạt động này đặt HS trước yêu cầu xử lí tình huống (tình
huống mới hoặc tình huống đã gặp với nhiệm vụ mới) để giúp các em có những hiểu
biết và kinh nghiệm mới. Một bài học không phải chỉ có một hoạt động khám phá
mà mỗi nội dung Đọc, Viết, Nói và nghe trong bài học đều có thể có những bài tập
giúp HS khám phá kiến thức mới. Ví dụ: tiếp xúc với mỗi bài đọc, HS đều được
hướng dẫn đọc hiểu bằng các câu hỏi; ở nhiều tiết viết, HS được hướng dẫn để biết
cách viết đoạn văn, bài văn; đó đều là các hoạt đ
 





