DANH NGÔN HAY

Thế giới vô cùng vĩ đại. Cặp mắt của bạn chỉ thấy được một phần nhỏ bé không đáng kể. Bởi vậy bạn hãy tìm lấy các sự kiện ở trong sách. Hãy tích lũy đều đặn hàng ngày các sự kiện ấy (V.Ôbrưsép)

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

TRUYỆN ĐỌC TRONG SÁCH- SƯU TẦM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Tháng 6/1925, tổ chức đầu tiên của thanh niên Việt Nam được thành lập mang tên Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, bao gồm 9 đồng chí. Đến cuối năm 1926 tăng lên 26 đồng chí và có nhiều thanh niên ưu tú như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… đã góp phần máu thịt của mình vào công cuộc giải phóng và bảo vệ đất nước.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7631788482806_9c758bdc42ff9467fddf1ca0f768befb.jpg Z7631788478857_562fc4d97612e5e89d75325f928d6422.jpg Z7609471632718_2e1f01ec78e619513a03aa60d1621875.jpg Z7609471526911_1ab7491fd67bb50d3e858aabfc7c8cdb.jpg Z7609471508555_ea3d4b11fb0d151647f94b2c191faf0a.jpg Z7582855098599_e95043ac919e20ebfdb7561cb3810c83.jpg Z7582855093980_b0845f81a3dd9edbd5a2470222d5fd9a.jpg Z7335251847973_c5b30c35eb97fd3fde3a79879c2e83de.jpg Z7335251844968_bd489058fb43609505e3dbaac950ff13.jpg Z7335251836670_666ae0c6c91f8438f1a22e7d77edaf7f.jpg Z6067290810969_47c663cf604de88cf7dcc2c5578ec3e9.jpg Z6067291122052_976a842e05b1b8bd975bfd109e4e19a7.jpg Z6067291084678_b84ce716530d124b22147ff4563e56ae.jpg Z6067291046006_12a3bc33c27e7e40da56c0468d75aeee.jpg Z6067290850285_f5c10e744efd9d7ad7c598fa581d6c3c.jpg Z6067290897032_b7e7259d00c2f5978d7df2d2f5291778.jpg Z6005308826541_12443e8511cded7ef1871640f4ac1219.jpg Z6004171842078_9434c665b229556e27ee1772c88a063c.jpg NOI_QUY_THU_VIEN_THAN_THIEN.jpg Z5333306881754_a1561a05582913f3daea635b8127ce7b.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SGV-SÁCH HAY SƯU TẦM

    SÁCH NÓI - SƯU TẦM

    BẢN TIN

    CHÀO MỪNG the marquee trong HTML Ngày 26/3 là Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (thành lập ngày 26/3/1931), là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Đây là dịp tôn vinh truyền thống vẻ vang, khẳng định vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

    LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG : LÝ TỰ TRỌNG

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    CĐ TIẾNG VIÊT5

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:26' 13-03-2026
    Dung lượng: 878.8 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    `TRƯỜNG TH BẠCH ĐẰNG

    LÝ THUYẾT CHUYÊN ĐỀ
    TỔ 4 + 5
    PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH DẠY HỌC
    MÔN TIẾNG VIỆT - LỚP 5 (SÁCH CÁNH DIỀU)
    Năm học 2024 - 2025
    LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:
    Tiếng Việt là môn học có vị trí vô cùng quan trọng trong nhà trường, đặc
    biệt trong trường Tiểu học, nó chiếm khá nhiều thời gian. Nhờ có môn Tiếng
    Việt mà học sinh khám phá được nhiều điều của tự nhiên, của xã hội. Thông qua
    việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường rèn luyện cho các em năng lực tư duy,
    phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng, tình cảm lành mạnh,
    trong sáng. Cuối bậc tiểu học, yêu cầu tối thiểu của học sinh cần phải đạt được
    là đọc thông, viết thạo mặt chữ, sử dụng tốt ngôn ngữ nói và viết trong học tập
    và giao tiếp.
    Cùng với các môn học khác ở tiểu học, môn Tiếng Việt có một vị trí hết
    sức quan trọng. Môn Tiếng Việt hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng
    sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi
    trường hoạt động của lứa tuổi. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản
    về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn
    hoá, văn học của Việt Nam. Nhằm phát triển năng lực cốt lõi, năng lực đặc thù
    (năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học). Đồng thời phát triển các phẩm chất: yêu
    nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
    Năm học 2024 – 2025 cả nước thực hiện chương trình sách giáo khoa
    2018 đối với lớp 5. Trường Tiểu học Bạch Đằng lựa chọn bộ sách Cánh Diều để
    giảng dạy. Chương trình Tiếng Việt 5 là một bộ phận của chương trình Tiếng
    Việt tiểu học là kế thừa và phát triển những thành tựu của chương trình Tiếng
    Việt 5 năm 2006. Thực hiện những đổi mới về cấu trúc nội dung, chú trọng phát
    triển toàn diện, chủ động, sáng tạo cho học sinh thích ứng với xã hội hiện đại và
    công nghiệp hóa.
    Vậy chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 5 bộ sách Cánh Diều có
    những điểm đổi mới gì về nội dung chương trình, cấu trúc của sách giáo khoa,
    cấu trúc của từng bài; phương pháp, hình thức tổ chức dạy học như thế nào để
    đáp ứng được yêu cầu đổi mới và đáp ứng được yêu cầu dạy học theo hướng
    phát triển năng lực của học sinh….? Đó cũng chính là những vấn đề, những câu
    hỏi được đặt ra đối với mỗi giáo viên.
    1

    Xuất phát từ thực tế trên, tập thể khối 5chúng tôi lựa chọn tổ chức chuyên
    đề: “Phương pháp và quy trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 5 sách Cánh Diều”.
    PHẦN THỨ NHẤT:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
    I. QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN CỦA SGK TIẾNG VIỆT 5 bộ SGK Cánh Diều
    1. Tiếp cận mục tiêu
    - Tiếp cận mục tiêu là lấy mục tiêu của CTGDPT làm căn cứ để lựa chọn, tổ chức
    nội dung học tập và hoạt động học tập của học sinh.
    1.1. Thiết kế hệ thống bài học trong sách theo trục Chủ đề, chủ điểm để phục vụ mục
    tiêu bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sống và các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm
    chỉ, trung thực, trách nhiệm.
    1.2. Thiết kế các bài học trong sách theo trục Hoạt động rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ
    (đọc, viết, nói và nghe) để phục vụ mục tiêu phát triển các năng lực đặc thù (năng lực
    ngôn ngữ và văn học), đồng thời phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực một
    cách vững chắc.
    2. Tiếp cận đối tượng
    - Tiếp cận đối tượng là lựa chọn, tổ chức nội dung học tập và các hoạt động học tập
    vừa phù hợp với trình độ nhận thức và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh vừa phát
    triển nhận thức và tình cảm, cảm xúc của học sinh.
    2.1. Thiết kế các nội dung giáo dục theo nguyên tắc vừa sức và phát triển
    - Hệ thống chủ đề, chủ điểm được xây dựng phù hợp với trình độ và yêu cầu phát
    triển của học sinh mỗi lớp.
    - Nội dung các bài học cũng được xây dựng phù hợp với trình độ và yêu cầu phát
    triển của học sinh mỗi lớp.
    2.2. Thiết kế hoạt động học tập phù hợp với các đối tượng học tập khác nhau
    - Các hoạt động học tập được thiết kế phù hợp với từng khối lớp: SGK Tiếng Việt 5,
    củng cố các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe đã hình thành từ các lớp dưới, với yêu cầu
    cao hơn (ví dụ, HS lớp5 cần có kĩ năng đọc diễn cảm và trả lời các câu hỏi đọc hiểu
    có yêu cầu suy luận – chủ yếu dưới hình thức tự luận), đồng thời rèn luyện kĩ năng
    viết đoạn văn, bài văn, cụ thể là: viết đoạn văn kể chuyện có tưởng tượng, viết đoạn
    văn biểu cảm, viết đoạn văn nghị luận, viết các bài văn kể chuyện được chứng kiến
    hoặc tham gia, miêu tả cây cối, con vật và viết một số văn bản hành chính, văn bản
    thông tin. Các kiến thức về tiếng Việt và văn học được dạy thành bài riêng nhưng nội
    dung chủ yếu là rèn luyện kĩ năng nhận biết và vận dụng vào đọc, viết, nói và nghe,
    không sa vào cách dạy hàn lâm (không chú trọng ghi nhớ định nghĩa, phân loại).
    2

    - Các hoạt động học tập được thiết kế theo hướng mở, phù hợp với từng nhóm HS để
    thực hiện giáo dục phân hoá:
    + SGK Tiếng Việt 5 có nhiều bài tập lựa chọn trong các hoạt động đọc, viết, nói và
    nghe để GV và HS chọn theo đặc điểm, điều kiện của mỗi lớp và khả năng, sở thích
    của mỗi HS.
    + SGK Tiếng Việt 5 có “phần mềm” khoảng 50 tiết (gồm các tiết Trao đổi về câu
    chuyện, bài thơ, bài báo đã đọc ở nhà, Góc sáng tạo, Ôn tập) để GV linh hoạt sử
    dụng cho phù hợp với đối tượng HS trong lớp. Ví dụ, GV không nhất thiết phải dạy
    toàn bộ nội dung các “phần mềm” này hoặc không yêu cầu những HS còn yếu phải
    học toàn bộ các nội dung đó mà có thể lấy bớt thời gian từ “phần mềm” để HS rèn
    luyện những kĩ năng còn yếu.
    II. CẤU TRÚC SÁCH VÀ BÀI HỌC
    1. Tổng thời lượng:
    - Tiếng Việt 5 được học trong 35 tuần, mỗi tuần 7 tiết, tổng thời lượng học là 245
    tiết.
    2. Cấu trúc sách:
    - Cấu trúc của sách Tiếng Việt 5 Cũng như toàn bộ SGK Tiếng Việt Cánh Diều,
    hệ thống các bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được thiết kế theo hệ thống chủ
    đề, chủ điểm.
    - Các chủ đề, chủ điểm và bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được bố trí cụ thể
    như sau:
    Chủ đề
    MĂNG NON

    Bài học – Chủ điểm

    Bài học – Chủ điểm

    Bài 1: Trẻ em như búp trên cành Bài 2: Bạn nam, bạn nữ
    Bài 3: Có học mới hay

    Bài 4: Có chí thì nên

    Bài 5: Ôn tập giữa học kì I
    CỘNG ĐỒNG

    Bài 6: Nghề nào cũng quý

    Bài 7: Chung sức chung lòng

    Bài 8: Có lí có tình

    Bài 9: Vì cuộc sống yên bình

    Bài 10: Ôn tập cuối học kì I
    ĐẤT NƯỚC

    Bài 11: Cuộc sống muôn màu

    Bài 12: Người công dân

    Bài 13: Chủ nhân tương lai

    Bài 14: Gương kiến quốc

    Bài 15: Ôn tập giữa học kì II
    NNGÔI NHÀ
    CHUNG

    Bài 16: Cánh chim hoà bình
    Bài 18: Sánh vai bè bạn
    3

    Bài 17: Vươn tới trời cao

    Bài 19: Ôn tập cuối năm học

    3. Cấu trúc và thời lượng thực hiện bài học
    SGK Tiếng Việt 5 có 15 bài học chính và 4 bài ôn tập (giữa học kì I, cuối
    học kì I, giữa học kì II, cuối năm học). Mỗi bài học chính ứng với 1 chủ điểm,
    được học trong 2 tuần (14 tiết). Bài học chính được thiết kế theo các hoạt động
    rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt
    với thời lượng cụ thể như sau:
    TUẦN LẺ CỦA BÀI HỌC

    TUẦN CHẴN CỦA BÀI HỌC

    Bài đọc 1

    2 tiết

    Bài đọc 3

    2 tiết

    Bài viết 1

    1 tiết

    Bài viết 3

    1 tiết

    Nói và nghe (KC)

    1 tiết

    Nói và nghe (Trao đổi)

    1 tiết

    Bài đọc 2

    1 tiết

    Bài đọc 4

    1 tiết

    Luyện từ và câu

    1 tiết

    Luyện từ và câu

    1 tiết

    Bài viết 2

    1 tiết

    Góc sáng tạo

    1 tiết

    1. Những điểm đổi mới
    1.1. Sách giáo khoa mới tổ chức lại các chủ điểm trên cơ sở 4 chủ đề để bảo đảm
    tính hệ thống, tính phát triển của bộ sách Tiếng Việt tiểu học và đáp ứng được
    đầy đủ yêu cầu giáo dục toàn diện phẩm chất, năng lực (năng lực đặc thù, năng
    lực chung) cho học sinh.
    1.2. Sách giáo khoa mới thực hiện dạy học phân hoá: Sách có nhiều bài tập lựa
    chọn. Cấu trúc sách có phần cứng và phần mềm (khoảng 50 tiết) để phù hợp với
    các đối tượng khác nhau và thực tế ở các địa bàn khác nhau. (Phần mềm gồm:
    các tiết Em đọc sách báo, Góc sáng tạo, Ôn tập) để GV linh hoạt sử dụng cho
    phù hợp với đối tượng HS trong lớp. VD: GV không nhất thiết phải dạy toàn bộ
    nội dung các “phần mềm” hoặc không yêu cầu những HS còn yếu phải học toàn bộ
    các nội dung đó mà có thể lấy bớt thời gian từ “phần mềm” để HS rèn luyện những
    kĩ năng còn yếu.)
    1.3. Cấu trúc bài học trong sách giáo khoa mới phù hợp với quy trình hoạt động:
    Chia sẻ (Khởi động) – Khám phá – Luyện tập – Vận dụng – Tự đánh giá.
    4

    1.4. Các bài đọc trong sách giáo khoa mới được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.
    Ví dụ, ở chủ điểm Có lí có tình (giải quyết mâu thuẫn trong cộng đồng), các bài
    đọc được bố trí theo trình tự từ xét xử (Mồ côi xử kiện) đến hoà giải (hoà giải ở
    toà án – Người chăn dê và hàng xóm; hoà giải trong lớp học, với vai trò của thầy
    cô – Chuyện nhỏ trong lớp học) và tự hoà giải (hoà giải giữa các lớp với vai trò
    của liên đội trưởng – Tấm bìa các tông; tự hoà giải giữa hai học sinh có mâu
    thuẫn – Ai có lỗi?).
    1.5. Trong sách giáo khoa mới, quy trình dạy viết trước hết tập trung vào một đề
    mà học sinh đã chọn hoặc một ngữ liệu đã quen để học sinh hiểu thật kĩ cách
    viết; đến bước luyện tập mới mở rộng sang đề khác hoặc ngữ liệu khác.
    1.6. Sách giáo khoa mới thiết kế lại toàn bộ nội dung rèn luyện các kĩ năng viết,
    nói và nghe phù hợp với yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
    1.7. Hoạt động Góc sáng tạo trong sách giáo khoa mới vừa giúp học sinh tổng
    kết, vận dụng những điều đã học sau mỗi bài học (chủ điểm) vừa khuyến khích
    sự sáng tạo ở mỗi học sinh.
    1.8. Cuối mỗi bài học, sách giáo khoa mới đều có yêu cầu Tự đánh giá để học
    sinh đánh giá kết quả học tập của mình, từ đó điều chỉnh cách học để đạt kết quả
    học tập cao hơn, đáp ứng yêu cầu của Chương trình.
    Sách TV5 năm 2006
    Số lượng tiết dạy/ 8 tiết: Trong đó
    tuần
    - 2 tiết tập đọc

    Sách TV5 - Cánh Diều
    7 tiết:Tuần lẻ gồm 3 tiết
    tập đọc, 2 tiết tập làm
    văn, 1 luyện từ và câu, 1
    tiết nói nghe.( Kể
    chuyện )
    + Tuần chẵn có 3 tiết
    TĐ, 1 tiết nói và nghe
    (trao đổi), 1 tiết LTVC,
    1 tiết TLV, 1 tiết Góc
    sáng tạo.

    - 1 tiết kể chuyện
    - 2 tiết tập làm văn
    - 1 tiết chính tả
    - 2 LTVC

    Cách chia bài/ tiết Theo phân môn: Tập đọc, Chia theo bài học: Mỗi
    dạy trong tuần
    Chính tả, Kể chuyện, LTVC, bài học học trong 2 tuần,
    Tập làm văn
    bài ôn tập học trong 1
    tuần
    5

    - Bài đọc 1, bài đọc 3
    (học 2 tiết)
    - Bài đọc 2, bài đọc 4
    (học 1 tiết)
    - Bài viết 1, bài viết 2
    - Nói và nghe (Kể
    chuyện, Trao đổi).
    - Luyện từ và câu
    - Góc sáng tạo (2 tuần:
    Giảm 1 tiết TLV, Không
    có tiết Chính tả, giảm 1
    tiết Kể chuyện, Thêm: 1
    tiết trao đổi, 1 tiết Góc
    sáng tạo.)Mỗi tuần bớt 1
    tiết LTVC.
    LTVC:
    Chương trình TV 2006
    Các lớp từ và từ loại: Từ đồng nghĩa,
    Từ trái nghĩa, Từ đồng âm, Từ nhiều
    nghĩa, Đại từ, Quan hệ từ

    Chương trình GDPT 2018
    Từ đồng nghĩa, Từ đa nghĩa, Đại từ,
    Kết từ

    Biện pháp tu từ: Không học thêm biện Học mới biện pháp tu từ: Điệp từ,
    pháp tu từ mới chỉ làm bài tập có sử
    điệp ngữ
    dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân
    hóa.
    Ôn tập về Dấu gạch ngang, dấu
    ngoặc kép, dấu chấm, dấu phẩy, dấu
    hai chấm, dấu chấm phẩy

    Dấu gạch ngang (dùng để đánh dấu
    bộ phận chú thích hoặc giải thích)
    Luyện tập tra từ điển

    Câu ghép

    Câu đơn và câu ghép
    Viết hoa để thể hiện sự tôn trọng đặc
    biệt.
    6

    Quy tắc viết tên riêng của cơ quan, tổ
    chức.

    Quy tắc viết tên riêng của cơ quan, tổ
    chức. (Chuyển xuống lớp 4)

    - Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ Nối các vế câu ghép bằng kết từ ; cặp
    ; cặp quan hệ từ hoặc cặp từ hô ứng.
    kết từ hoặc những cặp từ khác có tác
    dụng nối.
    - Nối trực tiếp (không dùng từ nối)
    - Nối trực tiếp (không dùng từ nối)
    (Học trong 7 tiết)
    (Học trong 2 tết)
    Ôn tập về từ đơn, từ phức,Từ ghép, từ Giảm tải (Lên lớp 6 các em mới học)
    láy
    Tập làm văn
    Chương trình TV 2006

    Chương trình GDPT 2018

    Tả cảnh (HKI), tả người ( HKI)

    Tả người (HKI), tả phong cảnh
    (HKII)

    Luyện tập viết đơn, Làm Biên bản

    Giảm tải

    Lập chương trình hoạt động

    Viết chương trình hoạt động

    Ôn tập về văn kể chuyện, tả cây cối,
    đồ vật, con vật

    Kể chuyện sáng tạo

    Thuyết trình tranh luận

    Viết đoạn văn nêu ý kiến về một hiện
    tượng xã hội.
    Viết đoạn văn giới thiệu một nhân vật
    văn học
    Viết đoạn văn thể hện tình cảm, cảm
    xúc
    Luyện tập viết báo cáo

    2. Những điểm mới so với sách giáo khoa Tiếng Việt 4 Cánh Diều
    2.1. Nội dung kiến thức, kĩ năng phát triển hơn so với lớp 4 theo quy định của
    Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
    7

    2.2. Hệ thống bài đọc (gồm các tác phẩm văn học và văn bản thông tin), hệ
    thống hoạt động viết, nói và nghe vừa phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực
    văn học cho học sinh vừa bồi dưỡng cho học sinh kiến thức, kĩ năng sống và các
    phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm với nội dung
    được mở rộng và nâng cao hơn lớp 4. Có thể hình dung điều này qua tên các chủ
    đề, chủ điểm của sách:
    Chủ đề

    Chủ điểm – Bài học

    Chủ điểm – Bài học

    MĂNG NON Bài 1. Trẻ em như búp trên Bài 2. Bạn nam, bạn nữ
    cành
    Bài 3. Có học mới hay

    Bài 4. Có chí thì nên

    Bài 5. Ôn tập giữa học kì I
    CỘNG
    ĐỒNG

    Bài 6. Nghề nào cũng quý

    Bài 7. Chung sức chung lòng

    Bài 8. Có lí có tình

    Bài 9. Vì cuộc sống yên bình

    Bài 10. Ôn tập cuối học kì I
    ĐẤT NƯỚC

    Bài 11. Cuộc sống muôn màu

    Bài 12. Người công dân

    Bài 13. Chủ nhân tương lai

    Bài 14. Gương kiến quốc

    Bài 15. Ôn tập giữa học kì II
    NGÔI NHÀ
    CHUNG

    Bài 16. Cánh chim hoà bình

    Bài 17. Vươn tới trời cao

    Bài 18. Sánh vai bè bạn

    Bài 19. Ôn tập cuối năm học
    2.3. Các câu hỏi, bài tập có yêu cầu cao hơn:
    – Câu hỏi, bài tập có yêu cầu giải thích, suy luận, khái quát, vận dụng cao hơn.
    – Yêu cầu viết đoạn văn, bài văn cao hơn, bắt đầu có yếu tố nghị luận.
    – Bài ôn tập cuối năm giúp học sinh vừa ôn tập kiến thức, kĩ năng đã học ở lớp 5
    vừa ôn tập kiến thức, kĩ năng đã học ở toàn cấp tiểu học.
    III. ĐÁNH GIÁ
    1. Mục tiêu: Giúp HS tự đánh giá và GV đánh giá HS về kết quả học tập; bồi
    dưỡng nhận thức,tình cảm, cảm xúc lành mạnh và các PC tốt đẹp cho HS.
    2. Các loại bài đánh giá; thời lượng thực hiện:
    - Tự đánh giá sau mỗi bài học (HS thực hiện ở nhà theo hướng dẫn trong SGK)

    8

    - Tự đánh giá giữa học kì, cuối học kì, cuối năm (HS thực hiện các bài luyện tập
    trên lớp theo hướng dẫn trong SGK).
    - Đánh giá của GV (đánh giá thường xuyên, định kì)
    3. Cấu trúc các loại bài đánh giá:
    a. Tự đánh giá sau mỗi bài học
    - Bài đọc
    - Câu hỏi đọc hiểu và bài tập từ ngữ, ngữ pháp
    - Yêu cầu tự đánh giá, xếp loại
    b. Tự đánh giá giữa học kì, cuối học kì, cuối năm
    - Bài đọc và câu hỏi đọc hiểu
    - Các bài tập viết, nói và nghe, từ ngữ, ngữ pháp.
    c. Đánh giá của GV
    - Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, học thuộc lòng
    - Đánh giá kĩ năng đọc hiểu
    - Đánh giá kĩ năng viết
    4. Cách đánh giá:
    * Tự đánh giá:
    – Các lớp dưới: Tự đánh giá bằng bảng kiểm.
    – Lớp 4, lớp 5: Tự đánh giá bằng bài đọc, bài tập:
    + Văn bản đọc
    + Các CH đọc hiểu
    + BT luyện từ và câu
    + BT viết (ngắn)
    – GV hướng dẫn (cách làm BT, cách cho điểm, xếp loại, tự nhận xét) để HS tự
    làm ở nhà.
    – HS tự làm ở nhà.
    – GV thường xuyên kiểm tra hoạt động tự đánh giá của HS qua Vở bài tập Tiếng
    Việt 4 hoặc phiếu học tập.
    * Đánh giá định kì:
    a. Đánh giá kĩ năng đọc thành tiếng, HTL
    – Thực hiện từ tiết 1 đến tiết 5, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
    – Mỗi tiết học đánh giá khoảng 20% HS trong lớp.
    b. Đánh giá kĩ năng đọc hiểu, kiến thức luyện từ và câu
    – Thực hiện ở tiết 6, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
    9

    – Ra đề theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    c. Đánh giá kĩ năng viết
    – Thực hiện ở tiết 7, bài Ôn tập giữa/cuối học kì.
    – Ra đề theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    * Lưu ý: Giáo viên cần theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc tự đánh giá của học
    sinh để nắm được học sinh đã biết được những gì, đã làm được những gì… Qua
    đó đánh giá được học sinh và để có những điều chỉnh, biện pháp giáo dục phù
    hợp với từng đối tượng học sinh.
    - GV cần trao đổi với phụ huynh học sinh để phụ huynh học sinh theo dõi giúp
    đỡ học sinh biết tự đánh giá và đánh giá một cách trung thực, cũng qua đó phụ
    huynh biết được những điều đã đạt được và chưa đạt của con em mình, từ đó có
    biện pháp phối hợp kịp thời với giáo viên để củng cố kiến thức, kĩ năng, năng
    lực cho học sinh.
    Dù đánh giá theo hình thức nào cũng đều phải bảo đảm nguyên tắc: Đánh
    giá sự tiến bộ của HS, coi trọng sự động viên, khuyến khích cố gắng trong học
    tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy nhiều nhất năng lực sẵn có hoặc đã
    được hình thành; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan; không so sánh HS
    này với HS khác, không tạo áp lực cho HS, GV và cha mẹ HS.
    IV. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
    1. Bản chất và ý nghĩa của phương pháp dạy học mới
    Phương pháp dạy học thích hợp nhất để thực hiện chương trình 2018 là tổ
    chức hoạt động, thể hiện triết lí “Lấy HS làm nhân vật trung tâm”.
    Bản chất của phương pháp Tổ chức hoạt động là tích cực hóa HĐ của
    người hoc, trong đó GV đóng vai trò là người tổ chức HĐ của HS, mỗi HS đều
    được HĐ. mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và phát triển.
    Những dấu hiệu đặc trưng của PP tổ chức HĐ là:
    - GV là người tổ chức, hướng dẫn HĐ của HS, tạo môi trường học tập thân thiện
    để khuyến khích HS tích cực tham gia vào các HĐ, không làm thay hoặc áp đặt
    quan điểm của mình cho HS.
    - HS được đặt vào các tình huống có vấn đề, trực tiếp quan sát, thảo luận, làm
    thí nghiệm và được khuyến khích đưa ra cách giải quyết vấn đề theo quan điểm
    của riêng mình.

    10

    - Giữa GV với HS và giữa các HS với nhau thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều
    chiều. Khi làm việc không chỉ có câu hỏi GV đặt ra cho HS mà có cả câu hỏi HS
    đặt ra cho GV hoặc đặt ra cho HS khác.
    - HS có hứng thúc học tập, có khả năng chủ động đề xuất nội dung học tập và
    khả năng tự đánh giá.
    - Qua HĐ học tập tích cực, HS được hình thành kiến thức, kĩ năng một cách
    vững chắc và học được phương pháp tiếp cận vấn đề, PP tự học. Ngày càng có
    nhiều HS thể hiện được bản sắc riêng trong nhận thức, kĩ năng và nhân cách.
    Sự ra đời của phương pháp Tổ chức HĐ có lí do thực tế: Kiến thức, kĩ năng
    (năng lực) chỉ được hình thành, phát triển thông qua HĐ có ý nghĩa của con
    người; những tư tưởng, tình cảm và nhân cách tốt đẹp cũng chỉ có thể được hình
    thành qua rèn luyện trong thực tế.
    PP tổ chức HĐ còn tạo ra NL tự học và hợp tác ở HS, phù hợp với điều kiện tiếp
    cận thông tin và những yêu cầu đối với người lao động trong xã hội hiện đại.
    Dạy học theo PP Tổ chức HĐ là một giải pháp thực hiện yêu cầu của Nghị
    quyết 29 - NQ/ TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
    sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu
    cầu công nghiệp hóa, hiê đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
    XHCN và hội nhập quốc tế “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
    theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
    thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
    máy móc. Tập trung dạy cách học , cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
    người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển
    từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú các hoạt
    động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghiệp
    thông tin và truyền thông trong dạy học”.
    2. Hoạt động của giáo viên trong giờ học theo phương pháp dạy học mới
    a) Giao việc cho học sinh
    - Nêu nhiệm vụ thầy và trò cần thực hiện trong giờ học.
    - Cho HS thực hiện một phần nhiệm vụ (làm mẫu, làm thử) nếu nhiệm vụ
    đặt ra trong CH, BT ấy là khó hoặc mới đối với HS. Sau khi cả lớp đã hoàn
    thành nhiệm vụ làm thử, GV tổ chức chữa bài để giúp HS nắm được cách làm và
    nhắc nhở những điểm HS cần chú ý khi làm bài.

    11

    - Nêu yêu cầu về hình thức hoạt động của HS (làm việc độc lập, làm việc
    nhóm hoặc làm việc theo lớp) để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đã giao.
    b) Tổ chức cho HS làm việc
    HĐ của HS trong giờ học TV theo PP Tổ chức HĐ là HĐ giao tiếp (đọc,
    viết, nghe, nói), phân tích, tổng hợp, cảm thụ, thực hành,... Trong quá trình HS
    làm việc, GV cần kiểm tra công việc của các em. Nội dung kiểm tra là:
    - Xem HS có làm việc không; nếu HS không làm việc thì cần tìm hiểu lí do,
    động viên các em làm việc để đảm bảo yêu cầu tích cực hóa HĐ học tập của
    người học.
    - Xem HS có hiểu việc phải làm không, nếu HS không hiểu việc phải làm thì cần
    giải thích, hướng dẫn lại cho HS làm đê HĐ của các em đạt được mục đích đề ra.
    - Trả lời thắc mắc của HS.
    c) Tổ chức cho học sinh báo cáo và đánh giá kết quả làm việc
    HS có thể báo cáo trực tiếp với GV, báo cáo trong nhóm, báo cáo trước
    lớp. Các hình thức báo cáo có thể là: báo cáo bằng lời, bằng phiếu học tập, bảng
    con hoặc bằng cách trình bày trên bảng lớp, trên máy chiếu, ti vi (cá nhân trình
    bày hay thi đua giữa các nhóm,...) Theo PPDH mới, người đánh giá HS không
    nhất thiết là GV. Có thể hướng dẫn để HS tự đánh giá hoặc đánh giá nhau trong
    nhóm hoặc trước lớp.
    Thực hiện PP tổ chức hoạt động không có nghĩa là loại bỏ các PPDH
    truyền thống, đoạn tuyệt với những kinh nghiệm và kĩ thuật dạy hoc đã tích lũy
    được. Sự vận dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức một số PPDH truyền thống có
    thể bù đắp cho những hạn chế dễ mắc phải nếu chưa hiểu thấu đáo về PP tổ chức
    HD khi hướng dẫn HS làm việc, nếu HS chưa hiểu cách làm, GV phải giảng giải
    cách thực hiện nhiệm vụ cho các em; lúc giới thiệu bài, lúc liên hệ, tổng kết hay
    củng cố, dặn dò, GV cũng không tránh được việc thuyết trình. Điều quan trọng
    nhất là GV không lấy việc giảng bài làm chính, không nói thay, làm thay học
    trò, đặt học trò vào vai thụ động ngồi nghe GV thuyết trình.
    3. Hoạt động của học sinh trong tiết học theo phương pháp dạy học mới
    Bài học trong SGK Tiếng Việt 5 được thiết kế theo mô hình hoạt động. Mỗi
    bài học gồm 5 loại hoạt động: Khởi động, Khám phá, Luyện tập, Vận dụng và Tự
    đánh giá (thực hiện ở nhà). Tuy nhiên, một bài học gồm nhiều nội dung: Đọc, Viết,
    Nói và nghe, Góc sáng tạo. Không nhất thiết là việc thực hiện mỗi nội dung này đều
    phải bao gồm đủ 4 loại hoạt động. Mặt khác, trong một bài học cũng như trong mỗi
    12

    nội dung học tập, các loại hoạt động có thể xen kẽ nhau, chứ không nhất thiết chỉ
    theo một thứ tự nhất định. Có thể hình dung như sau:
    (1) Khởi động (Chia sẻ): Nội dung của loại hoạt động này là tổ chức cho HS
    thực hiện một số hoạt động hoặc chia sẻ những điều đã trải nghiệm liên quan đến bài
    học để chuẩn bị cho bài học. SGK chỉ hướng dẫn hoạt động Chia sẻ về chủ điểm ở
    tiết học mở đầu mỗi bài học. GV nên coi đây là gợi ý tham khảo và có thể tổ chức
    khởi động theo cách khác, miễn là hoạt động đó giúp HS chia sẻ những điều đã trải
    nghiệm liên quan đến bài học để chuẩn bị cho bài học. Đồng thời, đối với mỗi nội
    dung Đọc, Viết, Nói và nghe trong bài học, GV cũng có thể bắt đầu bằng cách tổ
    chức một hoạt động khởi động phù hợp.
    (2) Khám phá: Loại hoạt động này đặt HS trước yêu cầu xử lí tình huống (tình
    huống mới hoặc tình huống đã gặp với nhiệm vụ mới) để giúp các em có những hiểu
    biết và kinh nghiệm mới. Một bài học không phải chỉ có một hoạt động khám phá
    mà mỗi nội dung Đọc, Viết, Nói và nghe trong bài học đều có thể có những bài tập
    giúp HS khám phá kiến thức mới. Ví dụ: tiếp xúc với mỗi bài đọc, HS đều được
    hướng dẫn đọc hiểu bằng các câu hỏi; ở nhiều tiết viết, HS được hướng dẫn để biết
    cách viết đoạn văn, bài văn; đó đều là các hoạt đ
     
    Gửi ý kiến

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 3 NHỨNG SỢI TÓC SÂU CỦA MẸ