BẢN TIN
LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3
GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG : LÝ TỰ TRỌNG
Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
CHUYỆN NỎ THẦN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:16' 26-12-2025
Dung lượng: 925.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:16' 26-12-2025
Dung lượng: 925.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TÔ HOÀI
CHUYỆN NỎ THẦN
Tiểu thuyết lịch sử
Nguồn: www.doitynan.com
NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỒNG
I
Vương họ Lý, tên Ông Trọng, người Từ Liêm. Thân dài hai trượng ba
thước. Khí chất thẳng thắn, dũng mãnh khác thường . Lý Tế Xuyên (Việt
Diện U Linh) Cuối đời Hùng Vương có người xã Thụy Hương, huyện Từ
Liêm, đất Giao Chỉ, họ Lý tên Thân. Sinh ra rất to lớn, cao hai trượng ba
thước. Tần Thủy Hoàng muốn cất quân đánh ta. Vua Hùng bèn đem Lý
Thân tiến nhà Tần. Thủy Hoàng mừng lắm, phong làm chức Tư lệnh hiệu
Úy. Đến khi Thủy Hoàng thôn tính thiên hạ, Lý Thân có công, được Thủy
Hoàng sai giữ Lâm Thao ở Trường Thành, uy danh vang dội đến Hung Nô.
Sau, tuổi già, Lý Thân về nước, Hung Nô lại sang xâm phạm cửa ải. Thủy
Hoàng nhớ Lý Thân, sai người sang triệu. Lý Thân không chịu đi, trốn vào
rừng núi. Bấy giờ, An Dương Vương nói dối vua Tần là Lý đã chết. Thủy
Hoàng đúc tượng đồng Lý Thân, đặt hiệu là Ông Trọng, dựng ở cửa Tư Mã,
kinh đô Hàm Dương. Trong bụng tượng chứa được mấy chục người. Mỗi
khi có sứ giả bốn phương đến, vua Tần ngầm sai người chui vào bụng
tượng, lay cho tượng cử động. Người Hung Nô trông thấy, sợ lắm, tưởng
quan Tư lệnh hiệu Úy Lý Ông Trọng còn sống, không dám động tới cửa ải.
Vũ Quỳnh và Kiều Phú (Lĩnh Nam Chích quái)
***
Hai con voi thình lình nhô lên giữa làn nước đỏ xuộm trước lưỡi cát
mỏng đầu bến. Nước nhếnh nhoáng như trát bùn đen nhánh lên mình voi.
Không trông rõ được hai người cởi trần trùng trục, đen trũi, ngồi vắt vẻo
trên lưng voi. Những ống chân voi đã nhấp nhô ngang mặt nước. Sóng sông
ào ào xô vào theo. Đô Lỗ và Đô Nồi cưỡi voi qua sông chơi thăm cố Ông
Trọng. Mới ít lâu không sang mà chỗ bến vào xóm nhà cố Ông Trọng, trông
đã phong quang hẳn. Vừa như hôm nào, đưa Cao Lỗ ra bến, Ông Trọng
bảo:
“Rác rưởi quá! Rác rưởi quá! Chỗ người ở thì phải cơ ngơi ra hồn,
không được hôi hám bề bộn hang cày cáo thế này". Quả nhiên, hôm nay đã
thấy đổi khác như lời Ông Trọng. Cả một vùng bãi khủyu sông Cái trước
mặt, những cây gỗ mục mùa lũ trên ngược trôi về, năm này năm khác, đọng
cao như gò. Bây giờ không còn vết tích đâu nữa. Phía trên mớm nước, chỉ
thấy sum suê những bụi chuối lá, chuối mắn -tàu dày như chiếc mo cau,
xanh ngắt, kéo ngang thân xuống, che những buồng chuối lá gân guốc,
những buồng chuối mắn tròn mẫm. Quá vào trong, những bãi ngô, bãi dâu
xanh rợn. Liên tiếp xa đến hút mắt vẫn chỉ một màu xanh xanh lẫn lộn
những bãi khoai lang dây bò bề bộn như cỏ rối. Những dây lang nổi chằng
chịt, lá khoai tốt như lá ráy. Phảng phất, phía bãi nào cũng nghe tiếng hát,
tiếng kèn lá chuối trẻ con quấn thổi chơi
- Mà không trông thấy người.
Cả Đô Lỗ, Đô Nồi cùng tấm tắc trong bụng: “Cố già ngoài trăm tuổi rồi
mà vẫn nói gì làm nấy được!" Đô Lỗ chỉ tay ra vùng bãi khoai lang trước
mặt, bảo Đô Nồi:
- Cố già tài thật, mới hôm nào chỉ thấy quạ với diều hâu đậu từng đám
trên đống gỗ mục, bây giờ đã xanh rờn thế kia.
Cố Ông Trọng thọ ngoài trăm tuổi rồi. Mỗi năm, Ông Trọng lại cầm cái
mũi lao đồng gạch một vạch đánh dấu tuổi vào chiếc mai rùa ở góc nhà.
Thật ra, cả Đô Nồi, Đô Lỗ cũng chưa thể đứng hàng bạn vong niên của ông
cố. Mà mới chỉ vào hàng cháu chắt chút Ông Trọng. Từ lúc còn bé, hai đô
đã nghe người già kể ngày xưa vùng ta có một tay võ một mình đấu ngã
hàng trăm người, đi đường gặp sông thì nhảy qua sông, gặp gò đống nhảy
qua gò đống. Hai tay xách hai cái cối đá, lẳng một cái, vỡ đầu cả hai con hổ
về làng rình bắt lợn. Năm Đô Lỗ ngoài hai mươi tuổi, nghe tin Ông Trọng ở
xa về, Đô Lỗ thường đến thăm mừng. Có khi rủ Đô Nồi cùng đi. Ông Trọng
hay cùng hai chàng trai trẻ ấy bàn bạc, thật hợp chuyện. Đôi khi lại thử sức
võ, tập vật, đánh roi. Trong câu chuyện, trong mọi cách ăn ở, xử sự và tài
nghệ, Ông Trọng hợp tính và quý hai người lắm. Ông Trọng thường khoe
với khách đến chơi:
“Người được như Đô Nồi, Đô Lỗ không phải thiên hạ sẵn có đâu".
Lần đầu tiên ấy, Đô Lỗ đến lạy mừng Ông Trọng. Đô Lỗ cũng như bao
người các cõi, cũng như mọi người làng, cả cháu chắt cũng không ai biết
mặt Ông Trọng. Nhưng tiếng tài Ông Trọng thì cồn như sóng cả bể Đông.
Đâu đâu cũng thành câu chuyện kể đất nước ta có ông tướng đi trấn giữ
Trường Thành nước Tần. Ông tướng trấn Trường Thành nước Tần nay đã
về quê. Các vùng đồng bãi hai bên sông Cái đồn dậy lên, người người nô
nức đến. Rồi tận các cõi Lục Hải, Ninh Hải, Chu Diên, Cửu Chân cũng trảy
hội về... Đô Lỗ ở Vũ Ninh về đến bên kia sông, rồi ngồi nan sang. Từ bến
lên, tấp nập đến lạ lùng. Người đánh trâu. Người khiêng lợn. Người gánh
rượu. Có người vác ngược cả buồng chuối mắn chín vàng rộm. Vào đến
trong xóm, càng rậm rịch. Người các nơi đến mừng Ông Trọng phải làm rạp
trú ra tận ngoài bãi. Tiếng cồng sôi như nước vỡ. Ai cũng mừng được vào
lạy Cố Ông Trọng. Đô Lỗ bước vào, trông lên thấy một cụ già quắc thước.
Tóc râu và lông mày bạc trắng. Cố cao lớn khác hẳn mọi người, đến độ
trông như không phải người thật. Cố cởi trần, da mồi đỏ hắt. Hai hàm răng
đen rức, vẫn chưa rụng chiếc nào. Con mắt cố sáng ngời, hầu như ai nhìn,
gặp ánh mắt cố, tự nhiên đã phải vòng tay, ý tứ vào khuôn phép. Đô Lỗ quỳ
xuống, lắp bắp:
- Cháu là Cao Lỗ.
Ông Trọng cười ha hả:
- A, cháu là Đô Lỗ bên Vũ Ninh đấy à?
Đô Lỗ giật mình, kính phục đến chỉ biết đứng nép bên đầu gối Ông
Trọng. Không còn nhớ mảy may nào về cái tiếng Đô Lỗ đã mấy năm nay
một mình giữ giải vật đất Vũ Ninh. Nhãng đi, quên cả mình đương là tay đô
đầu giải. Chỉ thấy ra như chú bé bi bô chơi bò quanh chân cụ cố. Đô Lỗ ở
lại với Ông Trọng mấy ngày, cứ quanh quẩn bên cố như ông cháu. Ông
Trọng vui chuyện với Đô Lỗ, có khi nằm chuyện rỉ rả đến khuya. Nghe
tiếng vạc đi ăn đêm đã về trong bờ tre, mới chợt nhớ đã tảng sáng. Rồi Ông
Trọng chỉ bảo cho Đô Lỗ những miếng vật nòi, và phép đánh roi, bắn nỏ.
Đô Lỗ cảm thấy một nỗi sung sướng không biết đấu nào đong cho xiết nữa.
Quả thực, Đô Lỗ đã nổi tiếng giỏi vật. Đô Lỗ đã nức danh đất Vũ Ninh, như
Đô Nồi ở Hương Canh. Đô Lỗ thạo những miếng roi hiểm, Đô Lỗ lại biết
cách bật nỏ một máng ra một lúc năm mũi tên. Nhưng trước Ông Trọng, Đô
Lỗ lại tưởng mình chỉ là đứa trẻ ngẩn ngơ. Chẳng phải chỉ là nghĩ thế, mà
có điều thật như thế. Những miếng vật Ông Trọng dạy cho, thoạt tưởng dễ,
mà cực hóc hiểm. Người vật non chưa từng ngờ ra như thế bao giờ. Ông
Trọng đã già lụ khụ. Thế mà khi Đô Lỗ vòng thử cho Ông Trọng ra miếng,
tay Đô Lỗ đụng vào vóc mình cố già, cứ như xiết vào cây gỗ lim, gỗ chò.
Ghê thật. Một hôm, Đô Lỗ thưa với Ông Trọng:
- Cố ơi! Cháu xin rước cố sang Vũ Ninh chơi.
- Ừ , thế nào tao cũng phải đi chơi dối già. Nhưng mà từ đây sang Vũ
Ninh...
Đô Lỗ lại nói:
- Xin cố đừng bận lo lắng đến chuyện đường xá. Cháu sẽ bắt một con voi
về rước cố đi chơi.
Ông Trọng lại cả cười:
- Hay đấy! Hay! Ngày còn trẻ, còn ở nhà, tao đi bắt voi, chỉ mới sang
cửa rừng bên kia sông đã gặp voi rồi. Bây giờ nghe nói voi ít ra ăn ven sông
nữa, phải không?
- Trong chân núi vẫn còn nhiều.
- Ừ , bắt cho tao con voi. Đã bao năm nay chưa được ngồi lên bành voi.
Bắt cho tao con voi.
Đầu mùa nắng, đâu đâu cũng nhộn nhịp mùa săn, vào tận trong rừng.
Bấy giờ chưa có mấy mưa rào. Suối còn cạn mà trời đã oi. Voi ở rừng sâu
hay ra tụ uống nước ven suối. Từng đàn gấu, đàn nai kéo về quanh làng,
ven sông, tìm ăn quả trám rụng. Suốt đêm, tiếng hươu giác gọi nhau, nghe
phía nào cũng văng vẳng. Mấy hôm trước, có nắng, trên các đầu sàn nhà, đã
thấy phơi từng đống lù lù những cỗ lưới. Rồi sáng sớm, nghe tiếng chó sủa
nhũng nhẵng chạy theo người vác lưới đi rừng. Cả làng đeo ống cơm đi
suốt ngày theo lưới vây bắt hươu, bắt gấu. Ngày nào cũng nghe lệnh chiêng
và tiếng tù và đuổi thú vang động khắp các rừng. Những người hôm trước
vác lưới vào rừng nhắn về nói trông thấy có vết chân voi ra. Vết chân mới trận mưa nhỏ đêm trước, nước đọng vũng trong những vòng gót to như
những trôn đấu ấn xuống mặt đất. Đô Lỗ về Hương Canh, lại rủ Đô Nồi
cùng đi săn voi. Mùa săn voi cũng là mùa hội săn. Cả đêm, người các xóm
thui lợn, nướng cá vui chơi tiễn phường săn. Nhiều người đến xin họp
phường cùng đi. Nhưng Đô Nồi bảo thôi. Chuyến này -không nói trước, sợ
sái -trong ý định hai người chỉ định bắt một con voi rồi về. Hai người chỉ
đem đôi voi nhà làm voi mồi đi theo. Lần khác phường sẽ đi đông hơn.
Mùa săn còn dài. Mọi thứ đã sắp sẵn. Đô Nồi và Đô Lỗ cưỡi chung một con
voi. Chú voi nhỡ lon ton theo sau, lưng chất các thứ vòng song, vòng mây
hun, những cuộn da trâu bện thành thừng, những sào dài đầu buộc thòng
lọng, những bì cói gạo ngô cùng những ống bương chứa nước mưa, mấy bó
tên, cánh nỏ, những chiếc giáo nhọn, móc câu...
Các đồ nghề và thức ăn cho người phường săn ở được dài ngày trong
rừng thẳm. Nửa đêm ấy, voi và người âm thầm vào rừng Báng ngay đầu
Hương Canh. Rồi liền mấy hôm, đi qua rừng Dùng, rừng Dó, đến tận rừng
Bùi Nhùi sát chân núi mới quay lại. Vẫn chưa gặp được dấu vết có voi về.
Trời mưa từ chập tối. Những trận mưa rào đầu mùa. Tiếng mưa tiếng sấm
vang như tiếng trống, tiếng cồng khua loạn từ lưng trời xuống bốn phía
bóng tối quanh mình. Tiếng sét kéo theo ánh chớp xanh lẹt suốt mặt sông
Cái. Những con nước bỗng ngút lên như bốc lửa. Tiếng sấm đuổi nhau từ
vòng trời xuống đầu rừng rồi lại chạy xa đi tận đâu. Tiếng mưa sầm sập, rồi
lác đác, sau chỉ còn thánh thót. Nước trên tàu chuối, tàu cọ rích xuống. Hai
con voi với Đô Lỗ và Đô Nồi vẫn lặng lẽ đi trong mưa. Voi lù lù như bóng
đất nổi lên. Voi cứ đi, voi chưa đến đấy bao giờ mà như đã thuộc đường, lùi
lũi mãi vào trong. Voi dừng lại trước một tảng đá lớn. Đô Lỗ và Đô Nồi
nhảy trên lưng voi xuống, trèo lên hốc đá. Bóng tối và bóng rừng phủ kín.
Đấy cũng là hai người phường săn đi ngủ. Tờ mờ sáng, tiếng vượn hú rin rít
khắp vách đá giục nhau xuống rừng kiếm ăn sớm, Đô Lỗ và Đô Nồi đã
khoác nỏ, đeo ống tên, lại cắp theo một bó lao. Hai người từ trong hốc tối
lần ra ngoài. Để lại sau lưng hai con voi đứng im như tạc vào vách đá.
Hai người trèo lên cây giâu gia cao, bóng trùm cả một vùng xung quanh.
Mặt đất mờ mờ. Rồi đến lúc sáng rõ hẳn. Trận mưa đêm qua đã quét dọn
quang đãng cả. Vừa sáng, mặt trời lên. Các khe lá rậm rạp nhấp nháy nhởn
nhơ những vệt nắng mới. Đã trông rõ vết voi đi lằn lối dưới gốc cây giâu
gia. Lốt chân vẫn nguyên thành bàn cao cao như những cái thúng nhòi
chồng lên nhau. Voi ăn đàn qua, thấy còn dấu vòi quăng nhổ cây, cây lộn
xộn hai bên nghiêng ngả rập xuống. Voi đi hay tìm kết đàn, cứ mỗi lúc đàn
một to hơn. Đến rừng này mới vài con đi với nhau, vài hôm sau tới cánh
rừng khác đã thêm hàng chục con, có khi hàng trăm, nghênh ngang khắp
một vùng. Đàn voi rừng ăn ngoài kia đã đánh hơi được có voi lạ tới -hai con
voi nhà đứng trong rừng sâu, thế nào cũng lần theo vết chân vào.
Sắp tới nơi, lốt chân voi nhà lẫn lốt chân voi rừng. Những con voi ngửi
hơi đi tìm đàn. Đến trưa, con voi đầu đã đủng đỉnh đến giữa quãng rừng ấy.
Con voi to mốc như tảng đá, những tảng đá biết thũng thĩnh lặng lẽ bước
êm như không. Thỉnh thoảng mới nghe mặt đất, tiếng cành, lá khô, tiếng
bùn lép nhép, lắc rắc. Những con voi đã rõ ràng thấy vết chân voi lạ. Một
con thả dài vòi xuống mặt bùn, rồi chun lên, như ngửi, như đánh hơi, dò
xét. Rồi cả đàn lại thong thả bước theo những lốt chân vào quãng rừng sâu.
Một con voi đi lên trước. Những voi đực đầu đàn lực lưỡng. Cả đàn theo,
lần lượt dọc dài. Voi nào cũng khoan thai, bốn chân khuỳnh chụm vào, bước
đều tăm tắp. Đô Lỗ và Đô Nồi vẫn ngồi yên trên cành giâu gia. Đàn voi đi
dưới. Những tấm lưng voi theo nhau rùng rùng nhấp nhô như cả trăm con
trăn cùng quăng mình, cuồn cuộn luồn qua. Giống voi ăn cỏ, ăn quả, ăn lá,
không hôi hám nặng mùi. Nhưng cả đàn theo liền, hơi nóng bốc lên rừng
rực như suối lửa. Hai người ngồi trên cây mà mồ hôi lưng vã ra. Đàn voi ấy
dài quá. Đi một lúc mà trông xuống vẫn thấy lực lưỡng những con voi đực
kềnh càng. Lại có những con voi con tự dưng quay ngang đợi voi mẹ tới.
Rồi những con voi con lại bước theo voi mẹ.
Voi con lũn chũn, đầu đụng vào bụng mẹ, chạy loăng quăng, nhấp nhô.
Đô Lỗ ngắm một voi con. Con voi nhỏ ấy ước độ ba bốn tuổi, mà đã phổng
pháp gồ ghề bằng con trâu mộng. Bước từ tốn, nền nã, lừ đừ. Không như
những con voi nhỏ hơn, mới chỉ một hai tuổi, đương chạy líu ríu đằng kia.
Con voi này trông vừa mắt quá. Voi này về, đương độ tuổi vực được nhanh,
chóng biết sai bảo. Đô Nồi đã chuyền cành cây sang đứng cạnh Đô Lỗ từ
lúc nào. Vừa lúc voi nhỏ kia đi tới, Đô Lỗ vung tay giơ sào, tung làn dây da
trâu xuống. Vòng dây xòe tròn, chụp vào đầu voi. Một chân voi cất lên,
thòng lọng tròng luôn cả vào. Thoắt cái, vòng song ném xuống với chiếc
thòng lọng da trâu đã siết chặt, treo từ cổ xuống chân trước voi. Trong khi
Đô Lỗ cong người ra sức co thừng lên, Đô Nồi thoăn thoắt nắm cả cuộn da
trâu lẫn dây song buộc quành mấy vòng vào thân cây giâu gia. Con voi
đương đi bị đứng lại. Voi cuốn vòi, rứt cái thòng lọng. Nhưng không được.
Voi nhảy hai chân trước, rít lên, quật mình đùng đùng vào gốc cây. Cũng
vẫn thế. Đàn voi đi trên, thấy động, tán loạn chạy ra cả khu rừng. Đến khi
biết rõ quãng loạn trong đoàn, tất cả đổ xô lại. Những voi mẹ quăng vòi húc
xả vào con voi bị vướng thòng lọng. Những tảng lưng voi đẩy vào nhau,
rung chuyển. Nhưng cây giâu gia cổ thụ, rễ cái ăn sâu lắm, không đổ được.
Con voi con bị buộc vào cây, vùng lên. Chốc chốc, cái cây lại rùng mình,
chao đi. Hai người vẫn đứng yên nhìn xuống đàn voi lồng lộn. Cánh nỏ đã
căng sẵn, đặt trên vai. Đô Lỗ giơ tay rút một ngọn giáo phóng xuống. Ngọn
giáo phập vào sau tai con voi đực vừa xô vào. Voi hốt hoảng nhảo ra, cái
giáo vẫn cắm chong chỏng. Những con voi khác chen vào. Đàn voi đã trông
thấy hai người phường săn trên cây. Voi nhổ đám cây con, voi quơ đá,
quăng rào vào. Những ngọn lao mũi đồng, những cánh nỏ từ tay Đô Lỗ, Đô
Nồi căng vun vút trổ xuống. Những con voi bị trúng lao, trúng tên chồm
lên, khua vòi quật vòi lung tung. Hai người phường săn chĩa nỏ bắn ra tận
những con voi còn đương loanh quanh luống cuống đằng xa.
Lũ voi phía ấy bị những mũi nhọn thình lình cắm vào mình nhảy loạn
xạ. Một lát, cả đàn nhốn nháo chạy dồn sang cánh rừng khác. Không con
nào dám xông vào gốc cây giâu gia như lúc nãy nữa. Đô Lỗ nhảy xuống,
tay cầm thừng dắt con voi chạy, lôi cả thòng lọng lằng nhằng về hang đá.
Đàn voi đằng kia thấy voi chạy, cả lũ lại rầm rập ùa theo. Nhưng, Đô Nồi
vẫn còn ngồi thu mình trên cành giâu gia, đưa nghiêng cánh nỏ nhằm
xuống. Lúc này, mới đến việc đánh chặn của Đô Nồi. Những con voi đi đầu
bị trúng nỏ. Có phát tên hiểm xuyên vào con mắt ti hí. Voi quăng vòi lên,
đau quá, xô ngược trở lại. Thế là cả đàn nhốn nháo, lại cuống cuồng chạy
trở lại. Không voi đàn nào dám đuổi nữa. Hai con voi nhà trông thấy Đô Lỗ
dắt con voi bị thòng lọng chạy lại. Đã quen hiệu quen việc rồi, hai voi nọ
cung cúc chạy trước. Voi con đeo thòng lọng ở cổ và trên bắp chân trước,
trông thấy có voi chạy trước mặt, chẳng biết voi nào, ngỡ voi đàn, càng bồn
theo nhanh. Lúc này, Đô Lỗ đã nhảy phắt lên ngồi trên cổ voi. Dường như
con voi không biết, vẫn hùng hục chạy. Chẳng mấy lúc đã ra tới quãng bãi
trống. Con voi rừng theo hai voi nhà, chạy nhông nhông đến tận lùm tre đầu
xóm. Đến đấy, Đô Lỗ nhảy thoắt xuống, dắt voi buộc vào gốc cây đa. Đô
Lỗ lại lấy ở đâu ra những vòng thòng lọng song đã vắt sẵn, quàng nốt vào
hai chân sau voi. Voi ngã kềnh ra, chưa kịp khua vòi chống cự lại. Voi giãy
giụa, lăn lộn. Cả bốn chân đã bị trói chỏng vó. Vòi quật, miệng há hốc, rít in
ỉn. Nhưng xung quanh vắng lặng. Hai con voi nhà đã đi vào phía rặng
chuối, đứng cong vòi bẻ ăn mấy nải chuối cuối buồng. Con chim bồ các ở
đâu toan về đậu trên ngọn đa như mọi khi, thấy tiếng động lạ dưới gốc, lại
bay vổng lên. Đô Lỗ quay lại nhìn cẩn thận một lần nữa con voi bị trói vào
gốc đa rồi về nhà. Hai voi nhà trông thấy Đô Lỗ, vội vã chạy trong bụi
chuối ra, lững thững bước sau chủ. Đến trưa, Đô Nồi cũng đã về tới đầu
xóm, tay cầm cánh nỏ không. Đô Lỗ đứng đợi dưới lùm tre, dáng boăn
khoăn. Thấy Đô Nồi, Đô Lỗ hớn hở chạy ra. Đô Nồi giơ chiếc ống tên rỗng,
nói:
- Voi con này chạy, cả đàn nó đuổi theo. Phải bắn xả một loạt. Mấy con
đi đầu thủng mặt, thủng tai. Có thế chúng nó mới chịu tan đàn.
May quá, vừa lúc hết cả ống tên. Con voi rừng bị trói bên gốc đa. Có đến
nửa tháng, không một ai ngó ngàng đến. Những hôm mưa suốt chiều suốt
đêm, như trút nước. Hạt mưa quật như roi vụt xuống, voi vẫn phải nằm bốn
vó cong queo lên. Ngày nắng rát, chiều đến, nắng xiên khoai. Lưng voi
cong lại, giơ ra chịu nắng, không cựa quậy tránh đi được. Voi đói, voi vật vã
vòi. Hai bên mép sùi bọt trắng nhả, quánh như bột. Voi khát quá. Con mắt ti
hí nhắm nghiền, lử lả. Rồi con voi con chỉ còn thoi thóp đợi chết. Những
tiếng rừng xa xôi cứ mơ hồ dần, không nghe được nữa. Nhưng mà voi
không thể chết được. Đấy là phép dạy voi của phường săn. Những ngày
mới bắt voi ở rừng về, phải hành hạ thế, đến lúc dạy bảo, nó mới chóng biết
ăn lời. Rồi một hôm Đô Lỗ ra gốc đa. Cõng theo một bó ngô cả cẳng cả
bắp. Đô Lỗ cầm cây ngô quét vào mắt voi. Voi từ từ mở mắt. Voi ngửi thấy
mùi thơm lá ngô, râu ngô, chợt tỉnh. Đô Lỗ đưa cả cây ngô vào miệng voi.
Con voi nuốt trửng ngay. Rồi Đô Lỗ đặt bó ngô xuống đấy, dỡ ra. Voi nằm
nghiêng, giơ vòi, vơ vào miệng từng cây ngô cả bắp, cả lá. Một thoáng, hết
veo. Hôm sau, Đô Lỗ lại vác bó cây ngô đến cho voi ăn. Một hôm, voi được
cởi trói hai chân trước. Voi đứng hẳn lên. Rồi thòng lọng ở cổ, ở chân cũng
được phường săn tháo ra. Con voi rúc vòi hùng hục cuốn cả cây ngô. Hai
voi nhà đến bên cạnh, cũng thủng thỉnh ăn như nhau. Cả tháng được chén
như thế.
Rồi Đô Lỗ dạy voi quỳ, voi đi, voi quay đầu. Voi đã biết cong mũi vòi lại
cho người đứng vào, rồi nhấc người lên ngồi trên lưng mình. Lúc Đô Lỗ
quất roi mây vào lưng, lúc quát, lúc cười, lúc cho ăn từng buồng chuối, từng
gông cỏ. Voi đã biết nghe lời người chỉ cho đi quanh quanh. Rồi voi biết ra
bờ sông uống nước. Lại quơ vòi lên ngắt quả bưởi. Voi thích nhất được ăn
chuối. Voi đi tìm bụi chuối, vặn xuống, đưa vào mõm một lúc hết cả buồng
hàng chục nải. Nghe hiệu hú gọi của Đô Lỗ, voi quay lại, đủng đỉnh về
đứng dưới gốc đa. Đô Lỗ cưỡi voi sang nhà Ông Trọng. Con voi đã thuần
rồi đem biếu Ông Trọng, bước theo sau. Hai con voi lội qua sông Cái. Trẻ
con trông thấy, chạy vào bảo. Ông Trọng ra đón Đô Lỗ tận ngoài bãi. Đô Lỗ
giơ tay làm hiệu. Con voi nhún hai chân trước ra điệu mời. Rồi voi chúm
cong vòi lại. Ông Trọng cười, vuốt râu, bước đúng vào giữa vòi voi. Voi
nhấc bổng Ông Trọng đưa lên ngồi chễm chệ trên lưng voi. Ông Trọng hể
hả nói to:
- Ha! Ha! Mấy chục năm nay mới lại biết cái mùi hôi lưng voi.
Ông Trọng và Đô Lỗ cưỡi voi đi rong dọc sông Cái, mãi đến sẩm tối mới
trở về. Con voi lại vươn vòi lên, cung kính, nhẹ nhàng đỡ Ông Trọng
xuống. ở chơi mấy hôm, rồi Đô Lỗ về, để con voi ở lại với Ông Trọng. Đã
lâu, từ độ ấy, hôm nay Đô Lỗ mới lại rủ Đô Nồi đi thăm Ông Trọng. Xuống
xin cụ chỉ bảo phép đánh roi. Lại có ý mời cụ đi Vũ Ninh chơi. Hai con voi
lênh khênh đưa Đô Lỗ và Đô Nồi vào xóm. Những nếp nhà sàn lửng, nửa
cái cột trốn ghé vào gò đất, bóng mái lá gồi thấp thoáng. Lác đác, cây trám,
quả xanh chi chít lẫn trong vòm lá xanh đen. Những cây cau đứng thành
hàng rào, thân mốc trắng, thẳng như che mành trước xóm. Hai người vừa đi
mà lại phân vân, chưa biết Ông Trọng có nhà không. Thường khi cả tháng
cố không ở nhà. Lão ông cao tuổi nhất thiên hạ, đâu cũng trọng vọng, đâu
cũng tranh nhau được đón cụ đến chơi, hơi hướng cụ để cái phúc cho con
cháu mọi nhà. Vào đến gốc đa, hai con voi bỗng đứng dừng lại. Có cái gì
khác, voi vừa đánh hơi thấy. Hai người nghển nhìn vào. Quả có chuyện lạ.
Con voi con đương bị thòng lọng tròng vào cổ. Ông Trọng giơ cái roi song,
nhứ nhứ vào đầu voi. Con voi im thít, không biết đương thản nhiên hay
đương sợ. Nhưng mẩu đuôi con con vẫn phất đi phất lại. Ông Trọng quát
hỏi:
- Mày chừa chưa? Chừa chưa?
Con voi vẫn thong thả vẫy cái đuôi hủn hoẳn. Đô Lỗ và Đô Nồi nhảy
xuống, chạy vào.
- Nó có tội gì mà cố chửi nó thế? Sao thế?
Ông Trọng quay ra:
- À , các cháu đã sang...
Rồi chỉ cái roi song vào đầu con voi, kể với hai người:
- Hư lắm. Dám ra ngoài bờ sông, bẻ nát cả bãi ngô. Ông trói lại hỏi tội
đấy.
Đô Lỗ bước đến, vuốt tay lên trán, lên tai voi:
- Thằng này còn như trẻ con, hay thèm ăn vặt, cố ạ. Nó lại thích nhá ngô
non, chuối xanh. Cố mắng thế, nó nghe biết tội rồi. Cháu xin cố tha cho nó.
Có hai con voi kia đến nữa. Chúng nó sẽ bảo nhau nền nếp, từ nay không
được ăn vụng, phải chừa ăn vụng.
Ông Trọng cười:
- Cũng ne nẹt thôi mà.
- Lại quắc mắt:
- Không có Đô Lỗ hôm nay xin cho, tao gông mày lại một tháng.
Rồi cố Ông Trọng buông tay roi xuống. Đô Lỗ bước tới, cúi xuống, ghé
răng cởi chiếc thừng da trâu buộc quấn hai đầu những đốt song vận thành
chiếc gông đóng cổ voi. Khúc song doãi ra, vừa lúc hai con voi kia bước
đến. Ba con voi giơ vòi hít nhau, như mừng chào hỏi. Ông Trọng và hai tay
đô lững thững vào xóm. Trên khoảng đất phẳng trước nhà, leo tràn lan vào
đống cành giong tre, những dây bàu lá xanh tròn xoe, hoa vàng phấn. Quả
bàu dài nằm ườn, quả bàu lọ ngồi lổm ngổm. Những quả gấc đỏ ối, lủng
lẳng ngay đầu mái lá cọ. Có hai đứa bé cởi trần đóng khố ngồi bậu cửa,
chầu hẫu nhìn ra. Thấy người đi vào, hai đứa đứng phắt dậy. Đô Nồi kêu
lên:
- Kìa Đống! Kìa Vực! ạ hay! Các con đi bắt cá kia mà.
Ông Trọng nói:
- Đừng mắng các cháu, phải tội. Lúc nãy vừa đến, các cháu đã thưa với
ông là nghe được bố với chú Đô Nỏ sắp sang đây đánh roi, thích quá, xin
sang xem một lúc thôi.
Nhưng Đô Nồi vẫn trợn mắt:
- Bọn quái này, sang đường nào?
Vực tinh nghịch, làm hiệu quào quào hai tay. Còn Đống chắp hai tay lên
bụng, cúi đầu.
- Chúng con bơi.
Mặt Đô Nồi vẫn còn vẻ bực. Nhưng trong bụng thì nghĩ vừa vui vừa lạ.
Từ nhà ở Chiêm Thạch ra tới bãi, cách một đỗi đường, rồi lại bơi qua sông.
Thế mà tưởng như vừa lúc nãy chúng nó còn ở ngoài nhà, hai đứa đương hí
hoáy nức thêm mấy nan tre cật vào miệng giỏ để đi bắt cá. Đô Nồi nghĩ
mừng về hai đứa con mới năm nao còn loắt choắt, giờ đã thành những quân
không vừa. Thằng anh, thằng em như nhau, chạy như ngựa, bơi như con
giái cá rồi. Ông Trọng quát:
- Đã nấu nước, giã chè chưa?
Hai anh em cùng thưa:
- Nấu rồi ạ.
- Xách vào đây, pha nước đi.
Đống ra ngoài bờ cỏ. Bếp lửa vừa tàn. Ba cọc cây dựng lên làm vua bếp,
một đống than, trên đặt tàu lá cọ tươi buộc túm, vỏ bùn đã khô, ám khói đen
kịt. Túm lá cọ trát bùn đun nước vừa sôi, bếp cũng vừa tắt. Vực vào trong
nhà, bê ra một cái liễn đại da lươn, đặt giữa cửa. Lúc nãy, khi Ông Trọng ra
gốc đa quở mắng chú voi, hai anh em đã trèo lên cây hái chè, rồi cầm hòn
cuội làm chày đá giã chè ngay trong liễn. Ông Trọng đã bảo:
“Chốc nữa, bố chúng cháu với chú Đô Nỏ sang tập roi. Có nước chè vò
uống cho gân tay càng khỏe". Đống xách hai túm lá gồi vào, mở lạt ra đổ
nước sôi đầy liễn. Khói bốc um, mùi chè xanh thơm ngát khắp nhà. Đô Nồi
và Đô Lỗ vào sau vách, vác ra hai cây roi. Đôi cây tre đực đã ngâm bùn ao
rồi hun khói bếp róc nhẵn từng vấu. Đằng ngọn, buộc sẵn túm bùi nhùi bồ
hóng. Vào đấu, ngọn roi quệt ra bồ hóng. Ai không đỡ được, bị chịu nhiều
vết nhọ, người ấy thua. Ông Trọng đứng
CHUYỆN NỎ THẦN
Tiểu thuyết lịch sử
Nguồn: www.doitynan.com
NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỒNG
I
Vương họ Lý, tên Ông Trọng, người Từ Liêm. Thân dài hai trượng ba
thước. Khí chất thẳng thắn, dũng mãnh khác thường . Lý Tế Xuyên (Việt
Diện U Linh) Cuối đời Hùng Vương có người xã Thụy Hương, huyện Từ
Liêm, đất Giao Chỉ, họ Lý tên Thân. Sinh ra rất to lớn, cao hai trượng ba
thước. Tần Thủy Hoàng muốn cất quân đánh ta. Vua Hùng bèn đem Lý
Thân tiến nhà Tần. Thủy Hoàng mừng lắm, phong làm chức Tư lệnh hiệu
Úy. Đến khi Thủy Hoàng thôn tính thiên hạ, Lý Thân có công, được Thủy
Hoàng sai giữ Lâm Thao ở Trường Thành, uy danh vang dội đến Hung Nô.
Sau, tuổi già, Lý Thân về nước, Hung Nô lại sang xâm phạm cửa ải. Thủy
Hoàng nhớ Lý Thân, sai người sang triệu. Lý Thân không chịu đi, trốn vào
rừng núi. Bấy giờ, An Dương Vương nói dối vua Tần là Lý đã chết. Thủy
Hoàng đúc tượng đồng Lý Thân, đặt hiệu là Ông Trọng, dựng ở cửa Tư Mã,
kinh đô Hàm Dương. Trong bụng tượng chứa được mấy chục người. Mỗi
khi có sứ giả bốn phương đến, vua Tần ngầm sai người chui vào bụng
tượng, lay cho tượng cử động. Người Hung Nô trông thấy, sợ lắm, tưởng
quan Tư lệnh hiệu Úy Lý Ông Trọng còn sống, không dám động tới cửa ải.
Vũ Quỳnh và Kiều Phú (Lĩnh Nam Chích quái)
***
Hai con voi thình lình nhô lên giữa làn nước đỏ xuộm trước lưỡi cát
mỏng đầu bến. Nước nhếnh nhoáng như trát bùn đen nhánh lên mình voi.
Không trông rõ được hai người cởi trần trùng trục, đen trũi, ngồi vắt vẻo
trên lưng voi. Những ống chân voi đã nhấp nhô ngang mặt nước. Sóng sông
ào ào xô vào theo. Đô Lỗ và Đô Nồi cưỡi voi qua sông chơi thăm cố Ông
Trọng. Mới ít lâu không sang mà chỗ bến vào xóm nhà cố Ông Trọng, trông
đã phong quang hẳn. Vừa như hôm nào, đưa Cao Lỗ ra bến, Ông Trọng
bảo:
“Rác rưởi quá! Rác rưởi quá! Chỗ người ở thì phải cơ ngơi ra hồn,
không được hôi hám bề bộn hang cày cáo thế này". Quả nhiên, hôm nay đã
thấy đổi khác như lời Ông Trọng. Cả một vùng bãi khủyu sông Cái trước
mặt, những cây gỗ mục mùa lũ trên ngược trôi về, năm này năm khác, đọng
cao như gò. Bây giờ không còn vết tích đâu nữa. Phía trên mớm nước, chỉ
thấy sum suê những bụi chuối lá, chuối mắn -tàu dày như chiếc mo cau,
xanh ngắt, kéo ngang thân xuống, che những buồng chuối lá gân guốc,
những buồng chuối mắn tròn mẫm. Quá vào trong, những bãi ngô, bãi dâu
xanh rợn. Liên tiếp xa đến hút mắt vẫn chỉ một màu xanh xanh lẫn lộn
những bãi khoai lang dây bò bề bộn như cỏ rối. Những dây lang nổi chằng
chịt, lá khoai tốt như lá ráy. Phảng phất, phía bãi nào cũng nghe tiếng hát,
tiếng kèn lá chuối trẻ con quấn thổi chơi
- Mà không trông thấy người.
Cả Đô Lỗ, Đô Nồi cùng tấm tắc trong bụng: “Cố già ngoài trăm tuổi rồi
mà vẫn nói gì làm nấy được!" Đô Lỗ chỉ tay ra vùng bãi khoai lang trước
mặt, bảo Đô Nồi:
- Cố già tài thật, mới hôm nào chỉ thấy quạ với diều hâu đậu từng đám
trên đống gỗ mục, bây giờ đã xanh rờn thế kia.
Cố Ông Trọng thọ ngoài trăm tuổi rồi. Mỗi năm, Ông Trọng lại cầm cái
mũi lao đồng gạch một vạch đánh dấu tuổi vào chiếc mai rùa ở góc nhà.
Thật ra, cả Đô Nồi, Đô Lỗ cũng chưa thể đứng hàng bạn vong niên của ông
cố. Mà mới chỉ vào hàng cháu chắt chút Ông Trọng. Từ lúc còn bé, hai đô
đã nghe người già kể ngày xưa vùng ta có một tay võ một mình đấu ngã
hàng trăm người, đi đường gặp sông thì nhảy qua sông, gặp gò đống nhảy
qua gò đống. Hai tay xách hai cái cối đá, lẳng một cái, vỡ đầu cả hai con hổ
về làng rình bắt lợn. Năm Đô Lỗ ngoài hai mươi tuổi, nghe tin Ông Trọng ở
xa về, Đô Lỗ thường đến thăm mừng. Có khi rủ Đô Nồi cùng đi. Ông Trọng
hay cùng hai chàng trai trẻ ấy bàn bạc, thật hợp chuyện. Đôi khi lại thử sức
võ, tập vật, đánh roi. Trong câu chuyện, trong mọi cách ăn ở, xử sự và tài
nghệ, Ông Trọng hợp tính và quý hai người lắm. Ông Trọng thường khoe
với khách đến chơi:
“Người được như Đô Nồi, Đô Lỗ không phải thiên hạ sẵn có đâu".
Lần đầu tiên ấy, Đô Lỗ đến lạy mừng Ông Trọng. Đô Lỗ cũng như bao
người các cõi, cũng như mọi người làng, cả cháu chắt cũng không ai biết
mặt Ông Trọng. Nhưng tiếng tài Ông Trọng thì cồn như sóng cả bể Đông.
Đâu đâu cũng thành câu chuyện kể đất nước ta có ông tướng đi trấn giữ
Trường Thành nước Tần. Ông tướng trấn Trường Thành nước Tần nay đã
về quê. Các vùng đồng bãi hai bên sông Cái đồn dậy lên, người người nô
nức đến. Rồi tận các cõi Lục Hải, Ninh Hải, Chu Diên, Cửu Chân cũng trảy
hội về... Đô Lỗ ở Vũ Ninh về đến bên kia sông, rồi ngồi nan sang. Từ bến
lên, tấp nập đến lạ lùng. Người đánh trâu. Người khiêng lợn. Người gánh
rượu. Có người vác ngược cả buồng chuối mắn chín vàng rộm. Vào đến
trong xóm, càng rậm rịch. Người các nơi đến mừng Ông Trọng phải làm rạp
trú ra tận ngoài bãi. Tiếng cồng sôi như nước vỡ. Ai cũng mừng được vào
lạy Cố Ông Trọng. Đô Lỗ bước vào, trông lên thấy một cụ già quắc thước.
Tóc râu và lông mày bạc trắng. Cố cao lớn khác hẳn mọi người, đến độ
trông như không phải người thật. Cố cởi trần, da mồi đỏ hắt. Hai hàm răng
đen rức, vẫn chưa rụng chiếc nào. Con mắt cố sáng ngời, hầu như ai nhìn,
gặp ánh mắt cố, tự nhiên đã phải vòng tay, ý tứ vào khuôn phép. Đô Lỗ quỳ
xuống, lắp bắp:
- Cháu là Cao Lỗ.
Ông Trọng cười ha hả:
- A, cháu là Đô Lỗ bên Vũ Ninh đấy à?
Đô Lỗ giật mình, kính phục đến chỉ biết đứng nép bên đầu gối Ông
Trọng. Không còn nhớ mảy may nào về cái tiếng Đô Lỗ đã mấy năm nay
một mình giữ giải vật đất Vũ Ninh. Nhãng đi, quên cả mình đương là tay đô
đầu giải. Chỉ thấy ra như chú bé bi bô chơi bò quanh chân cụ cố. Đô Lỗ ở
lại với Ông Trọng mấy ngày, cứ quanh quẩn bên cố như ông cháu. Ông
Trọng vui chuyện với Đô Lỗ, có khi nằm chuyện rỉ rả đến khuya. Nghe
tiếng vạc đi ăn đêm đã về trong bờ tre, mới chợt nhớ đã tảng sáng. Rồi Ông
Trọng chỉ bảo cho Đô Lỗ những miếng vật nòi, và phép đánh roi, bắn nỏ.
Đô Lỗ cảm thấy một nỗi sung sướng không biết đấu nào đong cho xiết nữa.
Quả thực, Đô Lỗ đã nổi tiếng giỏi vật. Đô Lỗ đã nức danh đất Vũ Ninh, như
Đô Nồi ở Hương Canh. Đô Lỗ thạo những miếng roi hiểm, Đô Lỗ lại biết
cách bật nỏ một máng ra một lúc năm mũi tên. Nhưng trước Ông Trọng, Đô
Lỗ lại tưởng mình chỉ là đứa trẻ ngẩn ngơ. Chẳng phải chỉ là nghĩ thế, mà
có điều thật như thế. Những miếng vật Ông Trọng dạy cho, thoạt tưởng dễ,
mà cực hóc hiểm. Người vật non chưa từng ngờ ra như thế bao giờ. Ông
Trọng đã già lụ khụ. Thế mà khi Đô Lỗ vòng thử cho Ông Trọng ra miếng,
tay Đô Lỗ đụng vào vóc mình cố già, cứ như xiết vào cây gỗ lim, gỗ chò.
Ghê thật. Một hôm, Đô Lỗ thưa với Ông Trọng:
- Cố ơi! Cháu xin rước cố sang Vũ Ninh chơi.
- Ừ , thế nào tao cũng phải đi chơi dối già. Nhưng mà từ đây sang Vũ
Ninh...
Đô Lỗ lại nói:
- Xin cố đừng bận lo lắng đến chuyện đường xá. Cháu sẽ bắt một con voi
về rước cố đi chơi.
Ông Trọng lại cả cười:
- Hay đấy! Hay! Ngày còn trẻ, còn ở nhà, tao đi bắt voi, chỉ mới sang
cửa rừng bên kia sông đã gặp voi rồi. Bây giờ nghe nói voi ít ra ăn ven sông
nữa, phải không?
- Trong chân núi vẫn còn nhiều.
- Ừ , bắt cho tao con voi. Đã bao năm nay chưa được ngồi lên bành voi.
Bắt cho tao con voi.
Đầu mùa nắng, đâu đâu cũng nhộn nhịp mùa săn, vào tận trong rừng.
Bấy giờ chưa có mấy mưa rào. Suối còn cạn mà trời đã oi. Voi ở rừng sâu
hay ra tụ uống nước ven suối. Từng đàn gấu, đàn nai kéo về quanh làng,
ven sông, tìm ăn quả trám rụng. Suốt đêm, tiếng hươu giác gọi nhau, nghe
phía nào cũng văng vẳng. Mấy hôm trước, có nắng, trên các đầu sàn nhà, đã
thấy phơi từng đống lù lù những cỗ lưới. Rồi sáng sớm, nghe tiếng chó sủa
nhũng nhẵng chạy theo người vác lưới đi rừng. Cả làng đeo ống cơm đi
suốt ngày theo lưới vây bắt hươu, bắt gấu. Ngày nào cũng nghe lệnh chiêng
và tiếng tù và đuổi thú vang động khắp các rừng. Những người hôm trước
vác lưới vào rừng nhắn về nói trông thấy có vết chân voi ra. Vết chân mới trận mưa nhỏ đêm trước, nước đọng vũng trong những vòng gót to như
những trôn đấu ấn xuống mặt đất. Đô Lỗ về Hương Canh, lại rủ Đô Nồi
cùng đi săn voi. Mùa săn voi cũng là mùa hội săn. Cả đêm, người các xóm
thui lợn, nướng cá vui chơi tiễn phường săn. Nhiều người đến xin họp
phường cùng đi. Nhưng Đô Nồi bảo thôi. Chuyến này -không nói trước, sợ
sái -trong ý định hai người chỉ định bắt một con voi rồi về. Hai người chỉ
đem đôi voi nhà làm voi mồi đi theo. Lần khác phường sẽ đi đông hơn.
Mùa săn còn dài. Mọi thứ đã sắp sẵn. Đô Nồi và Đô Lỗ cưỡi chung một con
voi. Chú voi nhỡ lon ton theo sau, lưng chất các thứ vòng song, vòng mây
hun, những cuộn da trâu bện thành thừng, những sào dài đầu buộc thòng
lọng, những bì cói gạo ngô cùng những ống bương chứa nước mưa, mấy bó
tên, cánh nỏ, những chiếc giáo nhọn, móc câu...
Các đồ nghề và thức ăn cho người phường săn ở được dài ngày trong
rừng thẳm. Nửa đêm ấy, voi và người âm thầm vào rừng Báng ngay đầu
Hương Canh. Rồi liền mấy hôm, đi qua rừng Dùng, rừng Dó, đến tận rừng
Bùi Nhùi sát chân núi mới quay lại. Vẫn chưa gặp được dấu vết có voi về.
Trời mưa từ chập tối. Những trận mưa rào đầu mùa. Tiếng mưa tiếng sấm
vang như tiếng trống, tiếng cồng khua loạn từ lưng trời xuống bốn phía
bóng tối quanh mình. Tiếng sét kéo theo ánh chớp xanh lẹt suốt mặt sông
Cái. Những con nước bỗng ngút lên như bốc lửa. Tiếng sấm đuổi nhau từ
vòng trời xuống đầu rừng rồi lại chạy xa đi tận đâu. Tiếng mưa sầm sập, rồi
lác đác, sau chỉ còn thánh thót. Nước trên tàu chuối, tàu cọ rích xuống. Hai
con voi với Đô Lỗ và Đô Nồi vẫn lặng lẽ đi trong mưa. Voi lù lù như bóng
đất nổi lên. Voi cứ đi, voi chưa đến đấy bao giờ mà như đã thuộc đường, lùi
lũi mãi vào trong. Voi dừng lại trước một tảng đá lớn. Đô Lỗ và Đô Nồi
nhảy trên lưng voi xuống, trèo lên hốc đá. Bóng tối và bóng rừng phủ kín.
Đấy cũng là hai người phường săn đi ngủ. Tờ mờ sáng, tiếng vượn hú rin rít
khắp vách đá giục nhau xuống rừng kiếm ăn sớm, Đô Lỗ và Đô Nồi đã
khoác nỏ, đeo ống tên, lại cắp theo một bó lao. Hai người từ trong hốc tối
lần ra ngoài. Để lại sau lưng hai con voi đứng im như tạc vào vách đá.
Hai người trèo lên cây giâu gia cao, bóng trùm cả một vùng xung quanh.
Mặt đất mờ mờ. Rồi đến lúc sáng rõ hẳn. Trận mưa đêm qua đã quét dọn
quang đãng cả. Vừa sáng, mặt trời lên. Các khe lá rậm rạp nhấp nháy nhởn
nhơ những vệt nắng mới. Đã trông rõ vết voi đi lằn lối dưới gốc cây giâu
gia. Lốt chân vẫn nguyên thành bàn cao cao như những cái thúng nhòi
chồng lên nhau. Voi ăn đàn qua, thấy còn dấu vòi quăng nhổ cây, cây lộn
xộn hai bên nghiêng ngả rập xuống. Voi đi hay tìm kết đàn, cứ mỗi lúc đàn
một to hơn. Đến rừng này mới vài con đi với nhau, vài hôm sau tới cánh
rừng khác đã thêm hàng chục con, có khi hàng trăm, nghênh ngang khắp
một vùng. Đàn voi rừng ăn ngoài kia đã đánh hơi được có voi lạ tới -hai con
voi nhà đứng trong rừng sâu, thế nào cũng lần theo vết chân vào.
Sắp tới nơi, lốt chân voi nhà lẫn lốt chân voi rừng. Những con voi ngửi
hơi đi tìm đàn. Đến trưa, con voi đầu đã đủng đỉnh đến giữa quãng rừng ấy.
Con voi to mốc như tảng đá, những tảng đá biết thũng thĩnh lặng lẽ bước
êm như không. Thỉnh thoảng mới nghe mặt đất, tiếng cành, lá khô, tiếng
bùn lép nhép, lắc rắc. Những con voi đã rõ ràng thấy vết chân voi lạ. Một
con thả dài vòi xuống mặt bùn, rồi chun lên, như ngửi, như đánh hơi, dò
xét. Rồi cả đàn lại thong thả bước theo những lốt chân vào quãng rừng sâu.
Một con voi đi lên trước. Những voi đực đầu đàn lực lưỡng. Cả đàn theo,
lần lượt dọc dài. Voi nào cũng khoan thai, bốn chân khuỳnh chụm vào, bước
đều tăm tắp. Đô Lỗ và Đô Nồi vẫn ngồi yên trên cành giâu gia. Đàn voi đi
dưới. Những tấm lưng voi theo nhau rùng rùng nhấp nhô như cả trăm con
trăn cùng quăng mình, cuồn cuộn luồn qua. Giống voi ăn cỏ, ăn quả, ăn lá,
không hôi hám nặng mùi. Nhưng cả đàn theo liền, hơi nóng bốc lên rừng
rực như suối lửa. Hai người ngồi trên cây mà mồ hôi lưng vã ra. Đàn voi ấy
dài quá. Đi một lúc mà trông xuống vẫn thấy lực lưỡng những con voi đực
kềnh càng. Lại có những con voi con tự dưng quay ngang đợi voi mẹ tới.
Rồi những con voi con lại bước theo voi mẹ.
Voi con lũn chũn, đầu đụng vào bụng mẹ, chạy loăng quăng, nhấp nhô.
Đô Lỗ ngắm một voi con. Con voi nhỏ ấy ước độ ba bốn tuổi, mà đã phổng
pháp gồ ghề bằng con trâu mộng. Bước từ tốn, nền nã, lừ đừ. Không như
những con voi nhỏ hơn, mới chỉ một hai tuổi, đương chạy líu ríu đằng kia.
Con voi này trông vừa mắt quá. Voi này về, đương độ tuổi vực được nhanh,
chóng biết sai bảo. Đô Nồi đã chuyền cành cây sang đứng cạnh Đô Lỗ từ
lúc nào. Vừa lúc voi nhỏ kia đi tới, Đô Lỗ vung tay giơ sào, tung làn dây da
trâu xuống. Vòng dây xòe tròn, chụp vào đầu voi. Một chân voi cất lên,
thòng lọng tròng luôn cả vào. Thoắt cái, vòng song ném xuống với chiếc
thòng lọng da trâu đã siết chặt, treo từ cổ xuống chân trước voi. Trong khi
Đô Lỗ cong người ra sức co thừng lên, Đô Nồi thoăn thoắt nắm cả cuộn da
trâu lẫn dây song buộc quành mấy vòng vào thân cây giâu gia. Con voi
đương đi bị đứng lại. Voi cuốn vòi, rứt cái thòng lọng. Nhưng không được.
Voi nhảy hai chân trước, rít lên, quật mình đùng đùng vào gốc cây. Cũng
vẫn thế. Đàn voi đi trên, thấy động, tán loạn chạy ra cả khu rừng. Đến khi
biết rõ quãng loạn trong đoàn, tất cả đổ xô lại. Những voi mẹ quăng vòi húc
xả vào con voi bị vướng thòng lọng. Những tảng lưng voi đẩy vào nhau,
rung chuyển. Nhưng cây giâu gia cổ thụ, rễ cái ăn sâu lắm, không đổ được.
Con voi con bị buộc vào cây, vùng lên. Chốc chốc, cái cây lại rùng mình,
chao đi. Hai người vẫn đứng yên nhìn xuống đàn voi lồng lộn. Cánh nỏ đã
căng sẵn, đặt trên vai. Đô Lỗ giơ tay rút một ngọn giáo phóng xuống. Ngọn
giáo phập vào sau tai con voi đực vừa xô vào. Voi hốt hoảng nhảo ra, cái
giáo vẫn cắm chong chỏng. Những con voi khác chen vào. Đàn voi đã trông
thấy hai người phường săn trên cây. Voi nhổ đám cây con, voi quơ đá,
quăng rào vào. Những ngọn lao mũi đồng, những cánh nỏ từ tay Đô Lỗ, Đô
Nồi căng vun vút trổ xuống. Những con voi bị trúng lao, trúng tên chồm
lên, khua vòi quật vòi lung tung. Hai người phường săn chĩa nỏ bắn ra tận
những con voi còn đương loanh quanh luống cuống đằng xa.
Lũ voi phía ấy bị những mũi nhọn thình lình cắm vào mình nhảy loạn
xạ. Một lát, cả đàn nhốn nháo chạy dồn sang cánh rừng khác. Không con
nào dám xông vào gốc cây giâu gia như lúc nãy nữa. Đô Lỗ nhảy xuống,
tay cầm thừng dắt con voi chạy, lôi cả thòng lọng lằng nhằng về hang đá.
Đàn voi đằng kia thấy voi chạy, cả lũ lại rầm rập ùa theo. Nhưng, Đô Nồi
vẫn còn ngồi thu mình trên cành giâu gia, đưa nghiêng cánh nỏ nhằm
xuống. Lúc này, mới đến việc đánh chặn của Đô Nồi. Những con voi đi đầu
bị trúng nỏ. Có phát tên hiểm xuyên vào con mắt ti hí. Voi quăng vòi lên,
đau quá, xô ngược trở lại. Thế là cả đàn nhốn nháo, lại cuống cuồng chạy
trở lại. Không voi đàn nào dám đuổi nữa. Hai con voi nhà trông thấy Đô Lỗ
dắt con voi bị thòng lọng chạy lại. Đã quen hiệu quen việc rồi, hai voi nọ
cung cúc chạy trước. Voi con đeo thòng lọng ở cổ và trên bắp chân trước,
trông thấy có voi chạy trước mặt, chẳng biết voi nào, ngỡ voi đàn, càng bồn
theo nhanh. Lúc này, Đô Lỗ đã nhảy phắt lên ngồi trên cổ voi. Dường như
con voi không biết, vẫn hùng hục chạy. Chẳng mấy lúc đã ra tới quãng bãi
trống. Con voi rừng theo hai voi nhà, chạy nhông nhông đến tận lùm tre đầu
xóm. Đến đấy, Đô Lỗ nhảy thoắt xuống, dắt voi buộc vào gốc cây đa. Đô
Lỗ lại lấy ở đâu ra những vòng thòng lọng song đã vắt sẵn, quàng nốt vào
hai chân sau voi. Voi ngã kềnh ra, chưa kịp khua vòi chống cự lại. Voi giãy
giụa, lăn lộn. Cả bốn chân đã bị trói chỏng vó. Vòi quật, miệng há hốc, rít in
ỉn. Nhưng xung quanh vắng lặng. Hai con voi nhà đã đi vào phía rặng
chuối, đứng cong vòi bẻ ăn mấy nải chuối cuối buồng. Con chim bồ các ở
đâu toan về đậu trên ngọn đa như mọi khi, thấy tiếng động lạ dưới gốc, lại
bay vổng lên. Đô Lỗ quay lại nhìn cẩn thận một lần nữa con voi bị trói vào
gốc đa rồi về nhà. Hai voi nhà trông thấy Đô Lỗ, vội vã chạy trong bụi
chuối ra, lững thững bước sau chủ. Đến trưa, Đô Nồi cũng đã về tới đầu
xóm, tay cầm cánh nỏ không. Đô Lỗ đứng đợi dưới lùm tre, dáng boăn
khoăn. Thấy Đô Nồi, Đô Lỗ hớn hở chạy ra. Đô Nồi giơ chiếc ống tên rỗng,
nói:
- Voi con này chạy, cả đàn nó đuổi theo. Phải bắn xả một loạt. Mấy con
đi đầu thủng mặt, thủng tai. Có thế chúng nó mới chịu tan đàn.
May quá, vừa lúc hết cả ống tên. Con voi rừng bị trói bên gốc đa. Có đến
nửa tháng, không một ai ngó ngàng đến. Những hôm mưa suốt chiều suốt
đêm, như trút nước. Hạt mưa quật như roi vụt xuống, voi vẫn phải nằm bốn
vó cong queo lên. Ngày nắng rát, chiều đến, nắng xiên khoai. Lưng voi
cong lại, giơ ra chịu nắng, không cựa quậy tránh đi được. Voi đói, voi vật vã
vòi. Hai bên mép sùi bọt trắng nhả, quánh như bột. Voi khát quá. Con mắt ti
hí nhắm nghiền, lử lả. Rồi con voi con chỉ còn thoi thóp đợi chết. Những
tiếng rừng xa xôi cứ mơ hồ dần, không nghe được nữa. Nhưng mà voi
không thể chết được. Đấy là phép dạy voi của phường săn. Những ngày
mới bắt voi ở rừng về, phải hành hạ thế, đến lúc dạy bảo, nó mới chóng biết
ăn lời. Rồi một hôm Đô Lỗ ra gốc đa. Cõng theo một bó ngô cả cẳng cả
bắp. Đô Lỗ cầm cây ngô quét vào mắt voi. Voi từ từ mở mắt. Voi ngửi thấy
mùi thơm lá ngô, râu ngô, chợt tỉnh. Đô Lỗ đưa cả cây ngô vào miệng voi.
Con voi nuốt trửng ngay. Rồi Đô Lỗ đặt bó ngô xuống đấy, dỡ ra. Voi nằm
nghiêng, giơ vòi, vơ vào miệng từng cây ngô cả bắp, cả lá. Một thoáng, hết
veo. Hôm sau, Đô Lỗ lại vác bó cây ngô đến cho voi ăn. Một hôm, voi được
cởi trói hai chân trước. Voi đứng hẳn lên. Rồi thòng lọng ở cổ, ở chân cũng
được phường săn tháo ra. Con voi rúc vòi hùng hục cuốn cả cây ngô. Hai
voi nhà đến bên cạnh, cũng thủng thỉnh ăn như nhau. Cả tháng được chén
như thế.
Rồi Đô Lỗ dạy voi quỳ, voi đi, voi quay đầu. Voi đã biết cong mũi vòi lại
cho người đứng vào, rồi nhấc người lên ngồi trên lưng mình. Lúc Đô Lỗ
quất roi mây vào lưng, lúc quát, lúc cười, lúc cho ăn từng buồng chuối, từng
gông cỏ. Voi đã biết nghe lời người chỉ cho đi quanh quanh. Rồi voi biết ra
bờ sông uống nước. Lại quơ vòi lên ngắt quả bưởi. Voi thích nhất được ăn
chuối. Voi đi tìm bụi chuối, vặn xuống, đưa vào mõm một lúc hết cả buồng
hàng chục nải. Nghe hiệu hú gọi của Đô Lỗ, voi quay lại, đủng đỉnh về
đứng dưới gốc đa. Đô Lỗ cưỡi voi sang nhà Ông Trọng. Con voi đã thuần
rồi đem biếu Ông Trọng, bước theo sau. Hai con voi lội qua sông Cái. Trẻ
con trông thấy, chạy vào bảo. Ông Trọng ra đón Đô Lỗ tận ngoài bãi. Đô Lỗ
giơ tay làm hiệu. Con voi nhún hai chân trước ra điệu mời. Rồi voi chúm
cong vòi lại. Ông Trọng cười, vuốt râu, bước đúng vào giữa vòi voi. Voi
nhấc bổng Ông Trọng đưa lên ngồi chễm chệ trên lưng voi. Ông Trọng hể
hả nói to:
- Ha! Ha! Mấy chục năm nay mới lại biết cái mùi hôi lưng voi.
Ông Trọng và Đô Lỗ cưỡi voi đi rong dọc sông Cái, mãi đến sẩm tối mới
trở về. Con voi lại vươn vòi lên, cung kính, nhẹ nhàng đỡ Ông Trọng
xuống. ở chơi mấy hôm, rồi Đô Lỗ về, để con voi ở lại với Ông Trọng. Đã
lâu, từ độ ấy, hôm nay Đô Lỗ mới lại rủ Đô Nồi đi thăm Ông Trọng. Xuống
xin cụ chỉ bảo phép đánh roi. Lại có ý mời cụ đi Vũ Ninh chơi. Hai con voi
lênh khênh đưa Đô Lỗ và Đô Nồi vào xóm. Những nếp nhà sàn lửng, nửa
cái cột trốn ghé vào gò đất, bóng mái lá gồi thấp thoáng. Lác đác, cây trám,
quả xanh chi chít lẫn trong vòm lá xanh đen. Những cây cau đứng thành
hàng rào, thân mốc trắng, thẳng như che mành trước xóm. Hai người vừa đi
mà lại phân vân, chưa biết Ông Trọng có nhà không. Thường khi cả tháng
cố không ở nhà. Lão ông cao tuổi nhất thiên hạ, đâu cũng trọng vọng, đâu
cũng tranh nhau được đón cụ đến chơi, hơi hướng cụ để cái phúc cho con
cháu mọi nhà. Vào đến gốc đa, hai con voi bỗng đứng dừng lại. Có cái gì
khác, voi vừa đánh hơi thấy. Hai người nghển nhìn vào. Quả có chuyện lạ.
Con voi con đương bị thòng lọng tròng vào cổ. Ông Trọng giơ cái roi song,
nhứ nhứ vào đầu voi. Con voi im thít, không biết đương thản nhiên hay
đương sợ. Nhưng mẩu đuôi con con vẫn phất đi phất lại. Ông Trọng quát
hỏi:
- Mày chừa chưa? Chừa chưa?
Con voi vẫn thong thả vẫy cái đuôi hủn hoẳn. Đô Lỗ và Đô Nồi nhảy
xuống, chạy vào.
- Nó có tội gì mà cố chửi nó thế? Sao thế?
Ông Trọng quay ra:
- À , các cháu đã sang...
Rồi chỉ cái roi song vào đầu con voi, kể với hai người:
- Hư lắm. Dám ra ngoài bờ sông, bẻ nát cả bãi ngô. Ông trói lại hỏi tội
đấy.
Đô Lỗ bước đến, vuốt tay lên trán, lên tai voi:
- Thằng này còn như trẻ con, hay thèm ăn vặt, cố ạ. Nó lại thích nhá ngô
non, chuối xanh. Cố mắng thế, nó nghe biết tội rồi. Cháu xin cố tha cho nó.
Có hai con voi kia đến nữa. Chúng nó sẽ bảo nhau nền nếp, từ nay không
được ăn vụng, phải chừa ăn vụng.
Ông Trọng cười:
- Cũng ne nẹt thôi mà.
- Lại quắc mắt:
- Không có Đô Lỗ hôm nay xin cho, tao gông mày lại một tháng.
Rồi cố Ông Trọng buông tay roi xuống. Đô Lỗ bước tới, cúi xuống, ghé
răng cởi chiếc thừng da trâu buộc quấn hai đầu những đốt song vận thành
chiếc gông đóng cổ voi. Khúc song doãi ra, vừa lúc hai con voi kia bước
đến. Ba con voi giơ vòi hít nhau, như mừng chào hỏi. Ông Trọng và hai tay
đô lững thững vào xóm. Trên khoảng đất phẳng trước nhà, leo tràn lan vào
đống cành giong tre, những dây bàu lá xanh tròn xoe, hoa vàng phấn. Quả
bàu dài nằm ườn, quả bàu lọ ngồi lổm ngổm. Những quả gấc đỏ ối, lủng
lẳng ngay đầu mái lá cọ. Có hai đứa bé cởi trần đóng khố ngồi bậu cửa,
chầu hẫu nhìn ra. Thấy người đi vào, hai đứa đứng phắt dậy. Đô Nồi kêu
lên:
- Kìa Đống! Kìa Vực! ạ hay! Các con đi bắt cá kia mà.
Ông Trọng nói:
- Đừng mắng các cháu, phải tội. Lúc nãy vừa đến, các cháu đã thưa với
ông là nghe được bố với chú Đô Nỏ sắp sang đây đánh roi, thích quá, xin
sang xem một lúc thôi.
Nhưng Đô Nồi vẫn trợn mắt:
- Bọn quái này, sang đường nào?
Vực tinh nghịch, làm hiệu quào quào hai tay. Còn Đống chắp hai tay lên
bụng, cúi đầu.
- Chúng con bơi.
Mặt Đô Nồi vẫn còn vẻ bực. Nhưng trong bụng thì nghĩ vừa vui vừa lạ.
Từ nhà ở Chiêm Thạch ra tới bãi, cách một đỗi đường, rồi lại bơi qua sông.
Thế mà tưởng như vừa lúc nãy chúng nó còn ở ngoài nhà, hai đứa đương hí
hoáy nức thêm mấy nan tre cật vào miệng giỏ để đi bắt cá. Đô Nồi nghĩ
mừng về hai đứa con mới năm nao còn loắt choắt, giờ đã thành những quân
không vừa. Thằng anh, thằng em như nhau, chạy như ngựa, bơi như con
giái cá rồi. Ông Trọng quát:
- Đã nấu nước, giã chè chưa?
Hai anh em cùng thưa:
- Nấu rồi ạ.
- Xách vào đây, pha nước đi.
Đống ra ngoài bờ cỏ. Bếp lửa vừa tàn. Ba cọc cây dựng lên làm vua bếp,
một đống than, trên đặt tàu lá cọ tươi buộc túm, vỏ bùn đã khô, ám khói đen
kịt. Túm lá cọ trát bùn đun nước vừa sôi, bếp cũng vừa tắt. Vực vào trong
nhà, bê ra một cái liễn đại da lươn, đặt giữa cửa. Lúc nãy, khi Ông Trọng ra
gốc đa quở mắng chú voi, hai anh em đã trèo lên cây hái chè, rồi cầm hòn
cuội làm chày đá giã chè ngay trong liễn. Ông Trọng đã bảo:
“Chốc nữa, bố chúng cháu với chú Đô Nỏ sang tập roi. Có nước chè vò
uống cho gân tay càng khỏe". Đống xách hai túm lá gồi vào, mở lạt ra đổ
nước sôi đầy liễn. Khói bốc um, mùi chè xanh thơm ngát khắp nhà. Đô Nồi
và Đô Lỗ vào sau vách, vác ra hai cây roi. Đôi cây tre đực đã ngâm bùn ao
rồi hun khói bếp róc nhẵn từng vấu. Đằng ngọn, buộc sẵn túm bùi nhùi bồ
hóng. Vào đấu, ngọn roi quệt ra bồ hóng. Ai không đỡ được, bị chịu nhiều
vết nhọ, người ấy thua. Ông Trọng đứng
 





