DANH NGÔN HAY

Thế giới vô cùng vĩ đại. Cặp mắt của bạn chỉ thấy được một phần nhỏ bé không đáng kể. Bởi vậy bạn hãy tìm lấy các sự kiện ở trong sách. Hãy tích lũy đều đặn hàng ngày các sự kiện ấy (V.Ôbrưsép)

TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

TRUYỆN ĐỌC TRONG SÁCH- SƯU TẦM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢN TIN HÔM NAY

    Tháng 6/1925, tổ chức đầu tiên của thanh niên Việt Nam được thành lập mang tên Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, bao gồm 9 đồng chí. Đến cuối năm 1926 tăng lên 26 đồng chí và có nhiều thanh niên ưu tú như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… đã góp phần máu thịt của mình vào công cuộc giải phóng và bảo vệ đất nước.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7631788482806_9c758bdc42ff9467fddf1ca0f768befb.jpg Z7631788478857_562fc4d97612e5e89d75325f928d6422.jpg Z7609471632718_2e1f01ec78e619513a03aa60d1621875.jpg Z7609471526911_1ab7491fd67bb50d3e858aabfc7c8cdb.jpg Z7609471508555_ea3d4b11fb0d151647f94b2c191faf0a.jpg Z7582855098599_e95043ac919e20ebfdb7561cb3810c83.jpg Z7582855093980_b0845f81a3dd9edbd5a2470222d5fd9a.jpg Z7335251847973_c5b30c35eb97fd3fde3a79879c2e83de.jpg Z7335251844968_bd489058fb43609505e3dbaac950ff13.jpg Z7335251836670_666ae0c6c91f8438f1a22e7d77edaf7f.jpg Z6067290810969_47c663cf604de88cf7dcc2c5578ec3e9.jpg Z6067291122052_976a842e05b1b8bd975bfd109e4e19a7.jpg Z6067291084678_b84ce716530d124b22147ff4563e56ae.jpg Z6067291046006_12a3bc33c27e7e40da56c0468d75aeee.jpg Z6067290850285_f5c10e744efd9d7ad7c598fa581d6c3c.jpg Z6067290897032_b7e7259d00c2f5978d7df2d2f5291778.jpg Z6005308826541_12443e8511cded7ef1871640f4ac1219.jpg Z6004171842078_9434c665b229556e27ee1772c88a063c.jpg NOI_QUY_THU_VIEN_THAN_THIEN.jpg Z5333306881754_a1561a05582913f3daea635b8127ce7b.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SGV-SÁCH HAY SƯU TẦM

    SÁCH NÓI - SƯU TẦM

    BẢN TIN

    CHÀO MỪNG the marquee trong HTML Ngày 26/3 là Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (thành lập ngày 26/3/1931), là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Đây là dịp tôn vinh truyền thống vẻ vang, khẳng định vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

    LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG : LÝ TỰ TRỌNG

    Chào mừng quý vị đến với website của thư viện Trường Tiểu học Bạch Đằng. Sách Ebook và tài liệu trong trang web được sưu tầm từ Internet. Bản quyền thuộc về Tác giả và Nhà xuất bản.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Những người cùng thời

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Internet
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 07h:55' 10-01-2026
    Dung lượng: 2.2 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    NHỮNG NGƯỜI
    CÙNG THỜI

    nhiều tác giả

    NHỮNG NGƯỜI
    CÙNG THỜI

    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    4

    NHIỀU TÁC GIẢ

    Ảnh bìa 1 (Từ trên xuống, từ phải qua):
    1. Đặng Văn Ngữ; 2. Hoài Thanh; 3. Cao Xuân Huy; 4. Cao Ngọc Anh;
    5. Nguyễn Khắc Viện; 6. Hồ Đắc Di; 7. Đặng Thai Mai; 8. Trần Văn Giàu; 9.
    Đỗ Xuân Hợp; 10. Hoàng Tụy; 11. Tôn Thất Tùng; 12. Nguyễn Tài Cẩn; 13.
    Trần Huy Liệu; 14. Nguyễn Khánh Toàn; 15. Chế Lan Viên;
    16. Nguyễn Đổng Chi; 17. Nguyễn Xiển; 18. Nguyễn Tài Thu;
    19. Lê Khả Kế; 20. Lê Tâm; 21. Nguyễn Minh Châu; 22. Hải Triều;
    23. Đặng Văn Chung; 24. Nguyễn Từ Chi; 25. Lê Bá Thảo

    NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

    5

    LỜI GIỚI THIỆU

    Trên diện bài khá rộng thuộc các lĩnh vực khoa học và công nghệ,
    văn hóa và văn chương - học thuật của Tạp chí Tia Sáng ngót 10 năm
    nay, có loạt bài viết về Chân dung, tôi rất ham đọc và mong đọc. Cũng
    như trên không ít tờ báo khác, Chân dung là loại bài rất đáng được
    chú ý, bởi một nhân vật nào đó được chọn viết thường phải là nhân
    vật có vấn đề cho người đọc suy ngẫm, hoặc có ý nghĩa nêu gương.
    Họ thuộc số người có những thành tựu và phẩm chất ưu trội, không
    phải chỉ do tài năng thiên bẩm, mà còn là do ý chí, nghị lực và khổ
    công rèn luyện, rất xứng đáng được kính trọng và ngưỡng mộ. Đó là
    Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Hồ
    Đắc Di, Đặng Thai Mai, Nguyễn Khánh Toàn, Hoàng Xuân Hãn... Là
    Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Hoài Thanh, Nguyễn Khắc Viện, Lê
    Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Nguyễn Tài Thu... Là Hải Triều, Phạm Huy
    Thông, Nguyễn Đổng Chi... Là Lê Khả Kế, Lê Bá Thảo, Nguyễn Từ
    Chi, Thái Bá Vân, Trương Chính, Vương Hồng Sển...
    Nhiều người trong danh sách trên đã được tôn vinh bởi các Huân
    chương, các Giải thưởng rất cao. Viết về họ là lẽ tự nhiên. Một số

    6

    NHIỀU TÁC GIẢ

    người sự tôn vinh có ít hơn, hoặc còn chưa có. Nhưng viết về họ cũng
    là cần thiết, bởi không phải không có ở họ những điều đáng suy ngẫm
    trên các đóng góp mà họ để lại cho đời. Và qua họ mà có một cầu nối
    đến với chúng ta, những con người bình thường, nhưng cũng có được
    như họ cái ý nguyện sống hết mình với nghề, và sự coi trọng các giá
    trị của tri thức và nhân cách.
    Đọc các chân dung trong tập sách này tôi càng có dịp hình dung
    rõ hơn: Thế nào là vẻ đẹp của trí tuệ. Nhưng trí tuệ, để được gọi là trí
    tuệ sáng láng, nó cần phải gắn bó thiết cốt với tình cảm, với tâm hồn.
    Không một lao động miệt mài nào mà không ẩn chứa và lấp lánh ở
    bề sâu con tim cái tình con người, với nhân quần, với đất nước - một
    đất nước phải chịu đựng quá lâu những thử thách của chiến tranh và
    đói nghèo như nước chúng ta.
    GS Phong Lê

    NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

    7

    PHẠM VĂN ĐỒNG
    KHOA HỌC NÂNG
    CON NGƯỜI TA LÊN!

    l

    HOÀNG TỤY

    Phạm Văn Đồng (1906-2000)
    Sinh ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), ông là người học
    trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1929, ông được cử vào
    Kỳ bộ Nam kỳ, rồi Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng
    chí Hội. Tháng 7.1929, ông bị đế quốc Pháp kết án 10 năm tù đày ra
    Côn Đảo. Năm 1936, ra tù ông tiếp tục hoạt động bí mật. Sau Cách
    mạng tháng Tám, ông là trưởng phái đoàn VNDCCH tại Hội nghị
    Fontainebleau (Pháp). Năm 1954, ông là trưởng phái đoàn Chính phủ
    dự Hội nghị Genève về Đông Dương. Từ năm 1955, ông là Thủ tướng
    Chính phủ và từ năm 1981 đến 1987 làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
    Tại Đại hội ĐCSVN, ông được bầu làm Cố vấn BCH TW. Ông là tấm
    gương mẫu mực về đạo đức cách mạng và có nhiều cống hiến quan
    trọng cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Ông để lại những tác
    phẩm có giá trị như Hồ Chủ tịch, hình ảnh dân tộc; Tổ quốc ta, nhân
    dân ta và người nghệ sĩ v.v...

    8

    NHIỀU TÁC GIẢ

    Đ

    ã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng tôi còn nhớ mãi những ngày
    gian khổ xây dựng và phát triển giáo dục ở miền Nam Trung Bộ
    mấy năm đầu kháng chiến chống Pháp, khi anh Phạm Văn Đồng làm
    đại diện Trung ương lãnh đạo cuộc kháng chiến ở vùng này.
    Hồi ấy, sau khi Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang,... bị địch chiếm,
    vùng tự do còn lại ở miền Nam Trung Bộ từ Quảng Nam đến Phú
    Yên thường xuyên bị máy bay và có khi cả tàu chiến địch bắn phá,
    ném bom. Thỉnh thoảng địch còn cho bộ binh từ biển đổ bộ vào càn
    quét nhiều ngày đêm. Trong tình hình chiến sự căng thẳng như thế,
    vừa phải tập trung sức bảo vệ vùng tự do, vừa phải lo đời sống cho
    dân và bộ đội, còn ai có tâm trí nghĩ đến học hành. Thế mà kỳ diệu
    thay, suốt mấy năm dưới sự lãnh đạo của anh, nhà trường ở đây vẫn
    không ngừng phát triển. Chẳng những không một lớp học nào nghỉ,
    mà nhiều lớp học mới, trường học mới được mở thêm. Đầu năm
    1947, trường Trung học Lê Khiết ra đời ở Quảng Ngãi, thu hút học
    sinh từ Quảng Nam đến Phú Yên, dần dần phát triển vượt cả quy mô
    trường trung học thời thực dân ở Quy Nhơn. Tôi còn nhớ buổi lễ bế
    giảng năm học 1946-1947 ở Chợ Chùa, anh đến thăm trường, nói
    chuyện và dự buổi tối văn nghệ với học sinh và giáo viên, động viên
    thầy, trò dù khó khăn vẫn phải cố gắng dạy và học nghiêm chỉnh.
    Rồi hàng năm, ít nhất vào dịp Quốc Khánh, bao giờ anh cũng gặp
    gỡ và ân cần thăm hỏi giáo viên. Có lúc tình hình chiến sự hết sức
    nghiêm trọng, tin tức ngoài Bắc đưa vào cho biết địch đang mở cuộc
    tấn công quy mô lên Việt Bắc hòng tiêu diệt đầu não kháng chiến,
    còn ngay ở liên khu nhà sự uy hiếp nặng nề của địch đối với vùng
    tự do của ta cũng làm nhiều người lo lắng. Vậy mà ngay giữa lúc ấy
    các hoạt động giáo dục vẫn không hề bị rối loạn. Nghe nói mỗi lần

    NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

    9

    xuống kiểm tra, đôn đốc các địa phương chuẩn bị chiến đấu, anh vẫn
    không quên nhắc nhở và động viên các cấp chính quyền cố gắng duy
    trì giáo dục dù có khó khăn. Không chỉ thế, nhận thấy trình độ văn
    hoá thấp kém của cán bộ trở ngại cho công tác cách mạng và kháng
    chiến, anh còn quyết định mở thêm một trường trung học nữa (đặt
    tên là trung học bình dân), và kiên quyết điều động cán bộ các cấp,
    các ngành ở khắp liên khu thu xếp công việc, luân phiên nhau tập
    trung về học gấp rút chương trình trung học trong vài năm. Ngày
    nay, một chủ trương như thế cũng đâu phải dễ làm, huống chi vào
    thời ấy, số thầy giáo có trình độ tú tài cả liên khu rất hiếm, lại thêm
    chiến sự liên miên, chỉ lo chống giặc, giữ đất và bảo vệ cuộc sống
    của dân cũng đã vô cùng khó nhọc. Trong hoàn cảnh ấy giá có chủ
    trương nghỉ học để đánh giặc thì nhiều người cũng cho là đương
    nhiên. Thế mà anh vẫn cho mở trường, hơn nữa còn đòi hỏi cán bộ
    tạm gác công việc chưa thật cấp bách để đi học, thì quả thật phải có
    tầm nhìn xa và tính quyết đoán cao, chẳng những tin chắc ở lợi ích
    của việc học, mà còn phải đủ can đảm để thực hiện một chủ trương
    nhìn bề ngoài có thể cho là chưa thật cần thiết. Sau này những ai
    từng sống ở Liên khu 5 thời kỳ ấy đều thấy rõ chính nhờ một phần
    quan trọng ở giáo dục được phát triển tốt ngay từ mấy năm đầu mà
    vùng tự do này đã giữ được sinh hoạt ổn định suốt cả cuộc kháng
    chiến. Hai trường trung học Lê Khiết và trung học bình dân, được
    thành lập do sáng kiến và dưới sự bảo trợ trực tiếp của anh, đã góp
    phần thiết thực nâng cao dân trí và đào tạo cán bộ, trở thành biểu
    tượng niềm tin vào sức mạnh giải phóng của giáo dục ở một miền
    đất từ xưa vốn nghèo khổ và thiếu học. Có lẽ hiếm thấy một trường
    trung học nào thời kháng chiến đã có nhiều giáo viên và học sinh

    10

    NHIỀU TÁC GIẢ

    sau này trở thành văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu,
    nhà hoạt động chính trị nổi tiếng cả nước như ngôi trường Lê Khiết
    khiêm tốn này. Điểm lại việc học ở Liên khu 5 thời ấy và nhớ lại
    những lúc được nghe anh trực tiếp thuyết phục cán bộ chăm lo sự
    nghiệp giáo dục ngay trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt và gian khổ
    gấp nhiều lần hiện nay, tôi thầm nghĩ nếu ở đâu và thời kỳ nào cũng
    có những nhà lãnh đạo lo nghĩ tới việc học một cách thiết thực và
    tâm huyết như anh thì may mắn biết bao cho tiền đồ của đất nước,
    nhất là trong kỷ nguyên kinh tế tri thức này.
    Trên cương vị người đứng đầu chính phủ suốt một thời gian dài,
    anh thường có nhiều dịp phát biểu về công tác giáo dục. Ôn lại tất
    cả những ý kiến đó của anh, và nhớ lại những điều tốt đẹp anh muốn
    làm cho giáo dục, tôi tin rằng nếu mọi ý tưởng của anh đều được thực
    hiện nghiêm chỉnh như thời anh lãnh đạo Liên khu 5 thì giáo dục của
    ta chắc đã tránh được biết bao khó khăn, vấp váp vừa qua. Có người
    trách anh, từ thập kỷ bảy mươi về sau, biết mà không làm được hay
    thậm chí có lúc nhân nhượng với những quan niệm ấu trĩ lệch lạc,
    nhưng riêng tôi đã từng vui buồn gắn bó với giáo dục từ nhiều năm,
    tôi quá hiểu không dễ gì đấu tranh với những xu hướng thiển cận, hẹp
    hòi một thời đã xa mà đến tận giờ vẫn còn tồn tại dai dẳng, tuy màu
    sắc đã đổi khác. Thời ấy, với cách hiểu lệch lạc chính trị là thống soái,
    các vấn đề “chuyên” với “hồng”, “trí” với “đức”, “chuyên môn” với
    “chính trị” thường bị đối lập máy móc giả tạo, mà hậu quả tai hại là
    không ít tài năng bị vùi dập. Những hạn chế lịch sử như vậy, dù ở vị
    trí của anh cũng đâu dễ cưỡng lại. Hơn nữa, ở một phương diện nào
    đó, sự ấu trĩ phải chăng vẫn còn dễ chấp nhận hơn những quan niệm
    cực đoan theo chiều ngược lại mà có lúc có vẻ đang thắng thế. Cho

    NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

    11

    nên càng suy nghĩ tôi càng biết ơn và cảm phục một nhà lãnh đạo
    ngay từ thời đó đã sáng suốt nhìn rõ bản chất vấn đề và đã trực tiếp
    hoặc gián tiếp bảo vệ một số người làm khoa học gặp khó khăn do
    những quan niệm hẹp hòi mà cứ tưởng là cách mạng kia. Âu cũng
    là một an ủi lớn, vì không có anh tình hình có thể còn phức tạp hơn;
    riêng tôi chắc cũng khó có cơ hội hôm nay yên tĩnh ngồi viết những
    giòng này để tưởng niệm anh.
    Phải nghe những lời tâm sự thiết tha của anh mấy năm trước lúc
    mất: “Cuối đời tôi chỉ tập trung lo nghĩ hai chuyện: tư tưởng Hồ Chí
    Minh và giáo dục” mới thấu được nỗi lòng tha thiết của anh. Vào thời
    gian này anh đã tăng cường gặp gỡ, trò chuyện với nhiều người về giáo
    dục trong nước và xu thế chung trên thế giới. Tuy tuổi đã cao, anh vẫn
    bỏ nhiều thì giờ và công sức đi đến các trường, dự các buổi giảng của
    giáo viên để hiểu rõ thực trạng trước khi viết loạt bài về giáo dục là
    những lời nhắn gửi thân yêu cuối cùng của anh với nhà trường chúng
    ta. Nhiều lần được cùng anh trao đổi ý kiến về giáo dục, tôi nhận thấy
    ở anh một tấm lòng ưu ái hiếm thấy đối với thầy giáo và học sinh, và
    một nỗi day dứt thật cảm động ở một người tự biết không còn ở lại
    với đời bao lâu nữa mà vẫn dồn sức suy nghĩ đóng góp vào sự nghiệp
    có tầm quan trọng then chốt đối với tương lai đất nước. Có lần tôi đến
    thăm anh, khi chia tay, anh nắm tay tôi nghẹn ngào mấy tiếng bất ngờ:
    “Tôi buồn lắm, buồn vô cùng!”. Tôi hiểu anh đang nghĩ đến những
    việc sai lầm, những con người hư hỏng đang làm tổn hại sự nghiệp
    cách mạng. Biết bao nhiêu việc anh còn muốn làm cho dân, cho nước
    quá mà lực bất tòng tâm. Khi tôi nêu ý kiến cần cấp bách chấn hưng
    và cải cách giáo dục để một ngày không xa nó trở lại là bông hoa
    của chế độ như thời trước, chấm dứt cảnh đau lòng nhà trường sa đọa

    12

    NHIỀU TÁC GIẢ

    thành nơi mua bán chữ, dạy thêm, luyện thi cấp tốc đủ kiểu để đối
    phó với các kỳ thi tốn kém và lạc hậu, thì anh đồng tình ngay, nhưng
    trên mặt lộ rõ một nỗi buồn mênh mông đến mức tôi cảm thấy ân hận
    như đã chạm tới một chỗ đau sâu kín.
    Giáo dục và khoa học chỉ là hai mặt của một vấn đề, cho nên anh
    quan tâm đến giáo dục bao nhiêu thì lo lắng bấy nhiêu cho khoa học.
    Còn nhớ năm 1968, vài ngày sau Tết Mậu Thân, giữa lúc cuộc tổng
    công kích ở miền Nam đang ở đỉnh cao, tôi được cử báo cáo phần
    toán học trong một buổi họp của Chính phủ về phương hướng phát
    triển khoa học, sau khi đoàn khoa học kỹ thuật của ta sang Liên Xô
    tham khảo ý kiến của bạn. Tưởng là nói về một ngành chuyên môn
    hẹp, trong giờ phút trọng đại cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn
    mới, chắc chỉ được Thủ tướng dành cho mấy phút đã là quý, không
    ngờ anh đã rất chăm chú nghe và còn nhiệt thành nêu lên nhiều ý
    kiến cụ thể, đòi hỏi các ngành khoa học phải phát triển mạnh mẽ để
    chuẩn bị xây dựng đất nước thống nhất. Anh thật lãng mạn, và chúng
    tôi cũng lãng mạn theo anh - sự lãng mạn giống như thời đầu kháng
    chiến chống Pháp vừa đánh giặc vừa mở trường ở vùng tự do, và giữa
    những năm 60 gửi hàng vạn thanh niên đi du học ở nước ngoài dù
    miền Bắc phải đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại đang leo thang
    từng ngày. Chính nhờ sự lãng mạn đó mà cuộc chiến đấu của chúng
    ta để giành độc lập thống nhất không chỉ có dũng cảm mà còn có trí
    tuệ, và trong thời gian tương đối ngắn, nhiều ngành khoa học của ta
    đã tiến lên một vị trí đáng tự hào so với các nước xung quanh - một
    vị trí mà tiếc thay, những năm tiếp theo, vì sự lãnh đạo bất cập, chúng
    ta đã không còn giữ nổi.

    NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

    13

    Mỗi lần có dịp ôn lại kinh nghiệm phát triển toán học Việt Nam
    mấy chục năm qua, chúng tôi thường nhắc tới anh và hai người nữa:
    anh Tạ Quang Bửu và anh Lê Văn Thiêm, mỗi người trên cương vị
    của mình đã có ảnh hưởng lớn lao đối với sự xây dựng ngành khoa
    học này trên đất nước ta. Có thể khẳng định nếu thiếu đi một trong
    ba vị ấy có lẽ chúng ta còn phải chờ đợi vài thập kỷ sau chiến tranh
    mới có thể xây dựng được một nền toán học như ta đã có hồi cuối
    thập kỷ 70. Riêng phần tôi, có một điều tôi rất tha thiết và anh cũng
    rất ủng hộ nhưng chúng tôi chưa làm được nhiều như mong muốn,
    đó là việc ứng dụng toán học. Nhớ khi chúng tôi tìm cách đưa các
    phương pháp vận trù học, Pert, toán kinh tế, khoa học hệ thống vào
    các ngành, thì anh rất nhiệt tình cổ xuý, nhờ đó lãnh đạo các cấp
    dần dần cũng hưởng ứng theo. Nhiều học giả nước ngoài lúc bấy
    giờ rất ngạc nhiên khi được biết qua bài viết của một ký giả Pháp
    đăng trên báo Le Monde, rằng vận trù học đang được áp dụng ở
    Việt Nam, kể cả Pert là công cụ toán học phục vụ quản lý vừa mới
    được phát minh ở Mỹ trong quá trình chế tạo tên lửa Polaris cách đó
    chỉ ba, bốn năm. Đó là thời kỳ vai trò Thủ tướng thể hiện rất rõ và
    cũng là thời kỳ hoàng kim của giáo dục, khoa học, trong đó có toán
    học. Thật đáng tiếc, lúc việc ứng dụng toán học có điều kiện khách
    quan để phát triển thì khó khăn đã ập tới và anh cũng không còn đủ
    sức để ủng hộ chúng tôi có hiệu quả. Hồi ấy, ngay một việc đơn giản
    như liên lạc thư từ giữa ta với các nước quá chậm chạp và trắc trở, lần
    nào bạn bè nước ngoài gặp anh cũng phàn nàn; hoặc như việc cử một
    nhà khoa học xứng đáng làm viện trưởng một viện khoa học, ... mà đến
    Thủ tướng cũng không giúp khai thông được, nhiều người lấy làm lạ.
    Nhân một buổi được anh tiếp trước khi tôi lên đường đi hội nghị ở

    14

    NHIỀU TÁC GIẢ

    Canada năm 1979, tôi có đề cập chuyện cải tiến quản lý. Vừa lúc
    ấy Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương (năm 1979) mới họp xong, có
    những quyết định chuyển hướng quan trọng đánh dấu sự đổi mới tư
    duy của lãnh đạo, nên anh bảo tôi nói lại với bạn bè: kỳ này chúng
    ta quyết tâm chuyển mạnh. Thế là theo lời anh dặn, tôi lên đường
    đi Canada với niềm lạc quan tin tưởng để truyền lại tin vui ấy cho
    bạn bè và những ai thiết tha với Việt Nam. Vậy mà rồi tôi đã gặp
    khó khăn do chuyện ấy, đến lần đi Pháp sau đó, lại phải vất vả nhờ
    đến anh mới gỡ ra được. Nỗi buồn của anh là biết nhiều việc cần
    làm mà không còn sức để thực hiện, thấy trước nguy kịch mà không
    thể làm gì có hiệu quả để ngăn chặn.
    Trong bao nhiêu năm làm khoa học tôi vẫn nghe văng vẳng bên
    tai câu nói của anh ở Hội trường Ba Đình năm nào, ngay giữa lúc
    các nhà trường ở Hà Nội bắt đầu kế hoạch sơ tán để tránh các cuộc
    oanh tạc của địch: “Khoa học nâng con người ta lên.” Xin ngàn lần
    cảm ơn anh.
    H.T

    NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

    15

    HẢI TRIỀU
    KIỆN TƯỚNG CỦA
    NỀN VĂN HÓA MỚI

    l

    PHONG LÊ

    Hải Triều (1908-1954)
    Tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh tại làng An Cựu (Huế). Ông
    tham gia Đảng Tân Việt năm 1927 và sau đó (1930), trở thành
    Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, được phái vào hoạt động ở
    Sài Gòn, tham gia Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1931, ông
    bị bắt, đến tháng 7.1932 được thả tự do. Ra tù, ông tiếp tục bí
    mật hoạt động cách mạng, đồng thời viết bài trên các báo hợp
    pháp để truyền bá chủ nghĩa Mác và quan điểm của Đảng Cộng
    sản về nghệ thuật vị nhân sinh. Tháng 8.1940 ông bị bắt đưa đi
    an trí tại Phong Điền (Thừa Thiên) đến tháng 3.1945 mới được
    thả. Ông tham gia tổng khởi nghĩa ở Huế, sau làm giám đốc Sở
    Tuyên truyền Liên khu IV, Ủy viên Ban chấp hành Chi hội Văn
    nghệ Liên khu IV. Những tác phẩm nổi tiếng của ông là Duy
    tâm hay duy vật (1935), Văn sĩ và xã hội (1937), Về văn học và
    nghệ thuật (tuyển những bài viết của ông xuất bản năm 1965)...
    Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

    16

    NHIỀU TÁC GIẢ

    T

    ất cả mọi nội dung được Hải Triều đề cập, từ các vấn đề lý
    luận chung của triết học, của văn hóa và văn học nghệ thuật cho
    đến sự bình luận về một tác giả hoặc tác phẩm cụ thể đều được tác
    giả soi chiếu từ một góc độ mới, để có thể qua đó nhận dạng về ông
    như một chiến sĩ văn hóa trước khi nói đến một nhà văn hóa.
    Sinh năm 1908, mất năm 1954, toàn bộ sự nghiệp lý luận và phê
    bình văn học của Hải Triều nằm trọn trong thời kỳ chuẩn bị cho việc
    xây dựng những nền tảng Mácxít Lêninít của nền văn học mới-văn
    học vô sản-văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mười năm
    sôi nổi của Hải Triều vào những năm 30 gắn với hai cuộc tranh luận
    lớn; Duy tâm và Duy vật, Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị
    nhân sinh, cũng là mười năm phát triển lên độ cao của nền văn học
    Việt Nam trước nhu cầu và xu thế hiện đại hóa.
    Nếu nhìn nhận hai hiện tượng mới của đời sống văn hóa, một là
    những thành tựu của quá trình hiện đại hóa văn hóa, và hai là quá
    trình hướng văn học vào các nhiệm vụ chính trị bức thiết của dân tộc
    mà chỗ dựa tin cậy là chủ nghĩa Mác Lênin, hai hiện tượng như là sự
    giải quyết hai yêu cầu lớn cùng đặt ra cho dân tộc và văn hóa dân tộc
    nửa đầu thế kỷ thì mới thấy công của Hải Triều là lớn. Và sự nghiệp
    lý luận, báo chí của Hải Triều trong những năm 30 là một sự nghiệp
    nhằm xây dựng nền móng cho nền văn nghệ mới, một nền văn nghệ
    trực tiếp hướng vào các tầng lớp người lao khổ và trực tiếp phục vụ
    cho công cuộc cách mạng.
    Những tranh luận học thuật, nhất là những cuộc đấu tranh tư
    tưởng nhằm vào các mục tiêu chính trị, một cách trực tiếp, và
    trong bầu không khí căng thẳng của thời cuộc, thường có ý vị gay

    NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

    17

    gắt, và theo cách nói của Lênin, quả khó tránh những “đòn thừa”.
    Trên chiến tuyến phân đôi hồi 1935-1939, giữa một bên là Thiếu
    Sơn, Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Thiều Quang...
    và một bên là Hải Triều, Hải Khánh, Hải Vân, Hồ Xanh, Lâm
    Mộng Quang, Bùi Công Trừng... dường như ít có điểm gặp nhau,
    cho đến khi kết thúc cuộc luận chiến, vào năm 1938, họ vẫn còn
    xa nhau. Ngay khi tưởng là có điểm gặp nhau như cùng khen Kép
    Tư Bền của Nguyễn Công Hoan thì cách khen và nội dung khen
    giữa hai phái cũng là khác nhau. Phái vị nhân sinh quả là rất quyết
    liệt và rạch ròi trong phân tuyến. Thái độ đó có cơ sở giải thích
    trong bối cảnh và khí hậu chính trị những năm 30, thời kỳ Mặt
    trận Bình dân, thời kỳ cả một thế hệ các chiến sĩ cách mạng và
    văn hóa cách mạng cùng nồng nhiệt trong một bầu máu nóng, một
    chí hướng vươn tới lý tưởng xã hội chủ nghĩa và thế giới đại đồng.
    Thời kỳ của sự quán triệt ý thức giai cấp và tinh thần quốc tế vô
    sản như trong bài thơ của Dưỡng Lĩnh:
    Đội quân Quốc tế ngọn cờ hồng
    Vô sản là ta, ta tấn công
    Diệt lũ Frăng-cô mà cướp lấy
    Madrid thành ấy của ta chung
    Thời kỳ đến cả một tên tuổi lớn như Nguyễn ái Quốc vẫn bị
    “Ban chấp hành Quốc tế cộng sản và Ban chấp hành Trung ương
    Đảng ta nhất trí với nhận định của Quốc tế phê phán là có khuynh
    hướng dân tộc chủ nghĩa, hữu khuynh cải lương. Chính cương vắn
    tắt của cách mạng nước ta do Người khởi thảo được trình bày ở
    Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản, ngày 3 tháng 2 năm 1930 và

    18

    NHIỀU TÁC GIẢ

    tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam bị bác bỏ. Sau khi thoát khỏi
    nhà tù của đế quốc Anh, năm 1934, Người trở lại Liên Xô nhưng
    không được trao công tác gì” (1).
    Dĩ nhiên khí hậu tư tưởng trên cũng chiếm lĩnh toàn bộ tư duy
    lý luận một thời, trong đó có Hải Triều, với nét đặc trưng là sự
    quyết liệt và triệt để trong tư thế phê phán, từ cách hiểu hai chữ
    “văn học” của bậc tiền bối Phan Bội Châu: “Cụ Sào Nam giải thích
    hai chữ văn học thế là sai lắm!”. Cho đến chủ nghĩa Tam dân của
    Tôn Dật Tiên... Chủ nghĩa Tam dân cùng với học thuyết Khổng
    giáo, Phật giáo và Triết học Mác, như Trần Dân Tiên sau này cho
    thấy từng được Nguyễn ái Quốc trong thời thanh niên sôi nổi của
    mình mong mỏi tiếp thu vì có “ưu điểm” là “Chính sách của nó
    thích hợp với điều kiện nước ta” (2).
    Lý luận về đấu tranh giai cấp hình dung một thế giới chia đôi, và
    do vậy thế giới văn học cũng chia đôi, như cách Hải Triều trình bày.
    Trong sự chia đôi này, phần tích cực, tiến bộ, cách mạng là thuộc về
    văn học “tả thực xã hội”. “Bên cái nền văn học thần bí, dâm ô của
    giai cấp phú hào đã bắt đầu gây dựng lên một nền văn học mới của
    giai cấp vô sản. Nền văn học này quyết nhiên là một nền văn học cách
    mạng. Cái hình thức của nó khuynh hướng hẳn về tả thực mà cái nội
    dung của nó là về xã hội” (3).
    (1) Hoàng Tùng: Bác Hồ với chữ “Đức”, Sách Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, KHXH, tr234
    (2) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Bản dịch Trung văn của Trương
    Niệm Thức; Nxb Tam Liên, Thượng Hải 6-1949, tr 91. Bản dịch tiếng Việt của Phan Văn Các.
    (3) Văn học và chủ nghĩa duy vật, sách Về văn học-nghệ thuật; in lần thứ 3, Nxb Văn học,
    1983; tr98.

    NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

    19

    Chúng ta hoan nghênh nhiệt tình của nhà lý luận cổ vũ cho một
    nền văn học mới của giai cấp vô sản và phục vụ cho giai cấp vô sản,
    ở thời điểm bấy giờ. Nhưng cách phân đôi rạch ròi thế giới văn học
    theo tiêu chí giai cấp như trên là có phần đơn giản, không sao bao quát
    được đầy đủ diện mạo đời sống văn chương. Một cách nhìn, một thái
    độ rộng rãi, khoan dung chỉ có thể có khi cuộc sống đi trọn quá trình
    của nó và làm hiện rõ cùng lúc hai nhu cầu lớn của đất nước: cách
    mạng và canh tân (đổi mới), giải phóng và phát triển. Hải Triều cùng
    các đồng chí của ông chưa thể vươn tới cái nhìn đó trong bối cảnh
    đương thời. Điều cần ghi nhận ở đây là bầu nhiệt huyết của ông, là
    tư thế chiến đấu của ông cho sự thắng lợi của một tư tưởng mới trong
    buổi đầu thâm nhập vào Việt Nam đã có ngay khả năng đáp ứng cho
    nhu cầu chính trị cấp bách của thời cuộc. Thời của sự triệt để trong ý
    thức giai cấp, của nhiệt tình truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa và ý
    thức quốc tế vô sản trong thể nghiệm đầu tiên đầy sức hấp dẫn. Ông
    khó tránh những “đòn thừa” của một chiến binh sôi nổi, và cố nhiên
    cũng chưa thể đòi hỏi ở ông sự già dặn của một triết gia, một chuyên
    gia về triết học hoặc lý luận nghệ thuật.
    Nhưng trên nhiệt tình triển khai lý luận văn nghệ Mácxít, trên ý
    thức cổ vũ cho văn học tả thực xã hội trong nước và văn học xã hội
    chủ nghĩa thế giới... vẫn có những phần đất nhất định cho Hải Triều đi
    vào các yêu cầu nghệ thuật của nền văn học mới và của thế giới văn
    chương nói chung. ở tư cách nhà
     
    Gửi ý kiến

    GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 3 NHỨNG SỢI TÓC SÂU CỦA MẸ